Vietland News


Dấu Tiếng Việt: Tắt  BDCN  VIQR+  Telex  VNI   mViet

 

Trở lại   Vietland News > DIỄN ĐÀN TIN TỨC THỜI SỰ > DIỄN ĐÀN THẢO LUẬN CHÍNH TRỊ

DIỄN ĐÀN THẢO LUẬN CHÍNH TRỊ
Nơi đăng những bài viết thời sự chính trị nóng bỏng
liên quan đến hiện tình đất nước để cùng nhau thảo luận

Góp ý
 
Thread Tools Search this Thread Display Modes
  #1  
Thần Báo Thần Báo is offline
Thành Viên
 
Join Date: Sep 2008
Location: Lynnwood, Washington
Posts: 197
Thanks: 6
Thanked 12 Times in 8 Posts
Arrow Sông Cửu Long và Những Vấn Nạn Hạ Nguồn

Old Ngày 31-10-2009, giờ 10:09
Ủy Ban Cửu Long (The Mekong Committee) được thành lập sau 10 lần hội thảo và chung quyết tổ chức vào ngày 17 tháng 9 năm 1957 tại Bangkok với sự hiện diện của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc, Ủy Ban Kinh Tế Á Châu Viễn Ðông ECAFE (The United Nations Economic Commission for Asia and the Far East), và 4 quốc gia thành viên thuộc hạ nguồn (downstream) Sông Cửu Long là Thái Lan, Cao Miên, Ai Lao và Việt Nam [Cộng Hòa].

Đang khi phía Cộng Sản ngày ấy bao gồm Trung Quốc, Miến Ðiện là những nước thượng nguồn (upstream) Sông Cửu Long, và đặc biệt là Việt Nam [Dân Chủ Cộng Hòa] đã lấy cớ không có chương trình phát triển giòng nước (had no development plans), từ chối tham gia hội nghị về Ủy Ban Cửu Long này.


Liên Hiệp Quốc đã phải giảng hòa bằng cách thành lập một Ủy Ban quản trị giòng sông Cửu Long với sự đồng thuận của bốn nước hạ nguồn nói trên, và nhất thời phải quên “điểm nóng” Trung Quốc.

Ủy Ban Cửu Long là tổ chức lãnh nhiệm vụ đôn đốc việc hợp tác, điều hành, quản trị, phát triển tài nguyên nguồn nước và những nguồn lợi liên quan đến môi trường an sinh vững ổn trong vùng Đông Nam Á. Vì lợi ích cộng đồng nhân loại, Uỷ Ban Cửu Long khai triển và thực hiện các chương trình hoạt động chiến lược, cung cấp thông tin khoa học, cố vấn chính sách, trao đổi các dữ kiện liên quan đến giòng sông.

Sông Cửu Long là giòng sông quốc tế, có chiều rộng được xếp vào hàng thứ bảy, và chiều dài 4200 cây số, thuộc hạng thứ mười của các giòng sông trên thế giới. Sông Cửu Long phát nguồn từ Tây Tạng, Trung Quốc và chảy qua Ai Lao, Thái Lan, Cao Miên đổ về đồng bằng miền Nam Việt Nam qua hai nhánh Sông Tiền Sông Hậu trước khi ra ngoài Biển Ðông. Cửu Long cũng không phải là giòng ngoại lai ngoại tộc, cũng không phải có hậu qủa chênh lệch và khó xử, hoặc là thượng nguồn thì lưu lượng dồi dào và hạ nguồn khan hiếm như Sông Euphrates hay Sông Nile. . . .

Sông Cửu Long có thể tự hào là giòng nước có nhiều giòng tộc ngư sản hơn bất cứ những sông nào khác trên thế giới. Theo nhà điều nghiên Walter Rainboth trong cuốn tài liệu phân loại cá mang tựa đề “Species Identification Field Guide For Fisheries Purpose: Fishes Of The Cambodian Mekong,” FAO, Rome 1996, Sông Cửu Long có hơn 2000 loại ngư sản và chia thành 3 nhóm theo nguồn gốc sinh thái. (1) Cá nước ngọt (fresh water), suốt đời chỉ sống trong nước ngọt và gặp nước mặn thì chết. Loại này gồm cá lưỡi xương (osteoglossidae), cá thác lác (notopteridate), cá linh (henichorhynchus)… (2) Cá nước mặn (salt water) là loại cá sống ngoài biển, nhưng khi tỵ nạn và hội nhập giòng sông thì cả đời lại thích sống trong nước ngọt, sinh sôi nảy nở như cá tra (pangaius kremfi), cá dồ (pangasianodon gigas). (3) Cá biển là loại cá biển có thể sống ngoài biển khơi hoặc chạy vào trong sông và thích hợp với môi trường nước phù sa của Sông Tiền Sông Hậu, ví dụ cá kìm (pristis microdon), và thích lội ngược giòng với lộ trình 3000 cây số đến Cao Miên, Ai Lao, Thái Lan hay tận cuối nguồn.

Chu kỳ sinh sản của cá tùy thuộc vào mùa lũ lụt hàng năm trên giòng Cửu Long. Cuộc di tản của cá thường xuất hiện vào đầu hoặc cuối mùa mưa. Ðầu mùa, cá di cư đến vùng ngập lụt -- Biển Hồ, và cuối mùa thì bỏ chạy vì nơi đó sẽ trở thành khô cạn. Khi nước lũ bắt đầu và chảy siết thì cá cũng bắt đầu cuộc di cư. Nước lũ qủa thật là động cơ sinh thái của hệ động vật trên giòng Cửu Long. Nước lũ không những là đặc điểm thiên nhiên mà còn là nhu cầu của con người trong việc phát triển kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, kỹ nghệ, chăn nuôi trồng trọt, sản xuất điện nước hay phòng chống lũ lụt.

Và chức năng của Ủy Ban Cửu Long (cũng như cá) là đi tìm sự thỏa hiệp và hợp tác của các nước thượng nguồn Trung Quốc, Miến Ðiện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên và hạ nguồn Việt Nam. Dầu rằng phát triển kinh tế nâng cao đời sống con người, nhưng trong việc phát triển ấy phải xét đến tình tự theo nhu cầu duy trì sự lành mạnh và phong phú của nguồn lợi thiên nhiên trong lưu vực, vì lợi ích chung của các dân tộc đang sống trên Sông Cửu Long hôm nay và các thế hệ tương lai mai sau.

Do đó, Ủy Ban Cửu Long gồm mỗi nước một thành viên thuộc cấp bộ trưởng trong chính quyền đương nhiệm. Ủy ban đề ra chính sách, quyết định và hướng dẫn liên quan trong việc thúc đẩy, hỗ trợ, hợp tác và phối hợp các hoạt động và chương trình chung. Các ủy viên phục vụ theo nhu cầu của quốc gia mình trong từng ủy ban liên hợp, nhằm tăng cường hợp tác qua phương cách tạo ra mối tương quan song phương giữa Ủy Ban Cửu Long và cấp quốc gia. Mỗi Ủy Ban Quốc Gia đều có một Ban Thư Ký. Và các ban thư ký hỗ trợ cho các Ủy Ban Cửu Long Quốc Gia trong việc xác định và phối hợp các chương trình của Ủy Ban Cửu Long, trợ giúp các cơ quan ngành trong nước mình về mọi hoạt động liên quan đến Ủy Ban Cửu Long, tạo nên những điều kiện tổ chức nhằm phục vụ những sự kiện quốc tế như trong biên bản các buổi hội nghị. Ngày 31 tháng 10 năm 1957 Ủy Ban bắt đầu nhận một ngân khoản đầu tiên là 60 triệu Franc (khoảng 120,000 Mỹ kim) do cộng đồng thế giới quyên góp và Pháp quốc đại diện trao tặng.

Và trong phiên họp kỳ II, ngày 10 đến 12 tháng 2 năm 1958 tại Bangkok, Ủy Ban Cửu Long nhận sự đỡ đầu của chương trình Wheeler và kế hoạch ngũ niên – chương trình do Trung Tướng Raymond Wheeler, nguyên chỉ huy lực lượng đồng minh trong Thế Chiến II có kinh nghiệm về vùng Cửu Long, và là người điều hành Ðoàn Công Binh Hoa Kỳ (The US Army Corps of Engineers). Tiếp đến năm 1959, Liên Hiệp Quốc đã bổ nhiệm Tiến sĩ Hart Schaaf, một Cao Ủy Trưởng làm Giám Ðốc điều hành Ủy Ban Cửu Long, và thành lập ra hội đồng cố vấn do Ủy Ban Kinh Tế Á Châu Viễn Ðông ECAFE đề cử.

Năm 1961, Ủy Ban Cửu Long tăng trưởng nhanh chóng trong việc hỗ tương cộng tác của các quốc gia thành viên và quốc tế, đạt được 14 triệu Mỹ Kim, và ngân khoản này vượt qua chỉ tiêu dự trù. Tính tới cuối năm 1965, Ủy Ban Cửu Long được sự cộng tác của 20 quốc gia, 11 cơ quan quốc tế, và nhiều tổ chức khác… đóng góp với ngân khoản hơn 100 triệu Mỹ Kim. Riêng Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc đã gây qũy yểm trợ được 2.5 triệu Mỹ Kim. Từ đó, Ủy Ban Cửu Long thành lập ra Câu Lạc Bộ Cửu Long (The Mekong Club), tạo nên sức sống mới trong cộng đồng nhân loại, mệnh danh là “Tinh Thần Cửu Long” (The Mekong Spirit).

Nhìn lại qúa trình thành lập Ủy Ban Cửu Long, chúng ta thấy phía nước Cộng Sản đã hoàn toàn bất cộng tác với tổ chức quốc tế. Đặc biệt là Hà Nội đã không nhìn thấy “nước Việt Nam hạ nguồn” (downstream) để mà đặt vấn đề “giữ nước” trước lợi thế thủy đập thượng nguồn (upstream) Trung Quốc. Từ ngày thành lập ủy ban cho đến tháng Tư Ðen 1975, Hà Nội luôn tìm cách thọc gậy bánh xe với phía quan thày Trung Quốc để đánh phá Ủy Ban Cửu Long. Và Trung Quốc cũng là một trong ba quốc gia trong đó có Thổ Nhĩ Kỳ và Burundi, bỏ phiếu chống lại Hiệp Ước The Convention On Transboundary Waters của Liên Hiệp Quốc bàn về vấn đề bảo vệ nguồn nước quốc tế (international rivers). Trung Quốc bất hợp tác với các nước hạ nguồn (Việt Nam, Ai Lao, Cao Miên, Thái Lan) và không tuân theo nguyên tắc công pháp quốc tế (China so far has not shown much interest in cooperating with its downstream neighbors and abiding by these international principles).

Trên thế giới có hơn 210 con sông lớn, xây đập thủy điện thủy lợi trong vài thập niên qua, ít nhất có từ 35 năm. Thực tế, các nước thượng nguồn (up-stream) trở nên thịnh vượng trong nghề chăn nuôi trồng trọt, lương thực được dồi dào và họ có thêm ưu thế quân sự là “cái đập” giúp họ cầm quyền phát nước, trị nước (water control) của các nước hạ nguồn (down-stream), làm dân cam cảnh nô lệ. Dân hạ nguồn thì phải chấp nhận hưởng thụ các giòng nước ô uế (contaminated water) do hóa chất độc hại organochlorines, DDT, toxic chemicals… từ phân bón hay thuốc trừ sâu của xứ nông nghiệp thượng nguồn thải ra rồi trút xuống giòng sông, đổ về hạ nguồn.

Theo tài liệu Tổ Chức Lương Nông Thế Giới (The U.N. Food and Agriculture Organization), Liên Hiệp Quốc 1996, với những phát minh tiến bộ khoa học công nghệ như khám phá ra hạt giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu, hay hệ thống phun tưới… làm gia tăng sản lượng lương thực, tạo gía thành ngũ cốc giảm hạ, tỷ lệ chết đói của nhân loại xuống thấp. Bình quân khẩu phần lương thực cho mỗi đầu người là 300 kilograms. Nhưng điều kiện trên chưa đủ, chưa phải là niềm hạnh phúc cho loài người hôm nay… vì rằng vấn nạn khan hiếm nước đang đe dọa chiến tranh toàn cầu. Mất nước, thiếu nước, khát nước dẫn tới tình trạng khủng hoảng an sinh, yếu kém sức dân, bất an xã hội, biến loạn chính trị, đó là nguyên nhân gây ra chiến tranh.

Nhân loại xưa nay xảy ra chiến tranh tàn sát tiêu diệt lẫn nhau cũng bởi khát nước. Ðiển hình Cuộc Chiến Sáu Ngày (Six Day War) của Do Thái vào năm 1967, vì cảm nhận nguy cơ thiếu nước, đang khi Syrian phong tỏa giòng Sông Banias một trong ba nhánh của Jordan. Do Thái phải lập tức đánh chiếm hai vùng nước chiến lược, hồ mạch ngầm West Bank và cao nguyên Golan Heights là thượng nguồn chảy xuống đập Jordanian, trước khi đổ ra hai nhánh Yarmouk và Banias.

Ðể có thêm bằng chứng về “chiến tranh vì nước,” người viết xin trích dẫn lời tuyên bố của thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Syleyman Demired trả lời yêu sách khi chia nguồn Euphrates Water với Syrian trước Liên Hiệp Quốc năm 1992, “Chúng tôi không nói chúng tôi chia nguồn dầu hỏa của họ. Thì họ cũng đừng nói muốn chia nguồn nước của chúng tôi (We do not say we should share their oil resources. They cannot say they should share our water resources).” Ðó là nước hằng sống, nước vĩnh cửu, và con người không nước thì chết.

Nhìn về quê hương Việt Nam, có thể vì sự di chuyển thuận lợi cho việc định canh định cư trong vùng đồng bằng hạ nguồn của tổ tiên chúng ta ngày trước, như châu thổ Sông Hồng, Ðồng Nai, Cửu Long… như điều kiện thiên nhiên cho phép! Nhưng tới thời đại ngày nay, các xứ nông nghiệp hạ nguồn lại lâm nạn! Họ đang trở thành những quốc gia nghèo đói vì “bị nô lệ” bởi cái đập ở trên thượng nguồn. Ðang khi quốc tế chưa thể hiện được một chính sách phát nước khả dĩ cân xứng, hòa đồng theo nhu cầu và tiến trình sống chung của nhân loại.

Nạn Nước Việt Nam ngày nay. Chứng cớ cụ thể là trường hợp đập Pak Mun, thuộc loại thủy điện thủy lợi cỡ lớn (hydro dam) thượng nguồn Cửu Long (Mekong River) miền Ðông Bắc Thái Lan, khánh thành sau thập niên 90 do công ty EGAT (Electricity Generating Authority of Thailand) và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) tài trợ. Và cũng trên lưu lượng thượng nguồn còn có cả một hệ thống thủy đập của Trung Quốc, của Miến Ðiện và chảy xuống thủy đập của Ai Lao, của Cao Miên… một giòng với bấy nhiêu cái đập… thì nguồn nước trở thành ô uế (contaminated water), độc chất sa thải từ các vùng kỹ nông lâm ngư… chảy xuống Sông Tiền Sông Hậu của đồng bằng miền Nam Việt Nam. Nguồn nước ô nhiễm! Hỡi ơi, mất nước, thiếu nước (fresh water) đang trở thành mối đe dọa, không những chỉ nước canh tác mà còn ảnh hưởng an sinh của đồng bào ta hạ nguồn.

Miền Bắc thì cũng mất nước. Trung Quốc vốn sẵn mộng làm quan thái thú đô hộ dân ta ngàn xưa, thì nay lại có ưu thế “cái đập” trị nước mang tên là “The Three Gorges Dam” mãi tận thượng nguồn Sông Hồng (Yangtze River). Việt Nam khó mà thoát ách nô lệ quân Tàu! Thiếu nước thì đi vay (water loan), vay mượn thì thành con nợ và trả nợ chồng chất ngập đầu. Vay tiền (money loan) thì trả lãi, và có lẽ còn dễ trả hơn là nợ nước. Nợ nước thì trả bằng nông phẩm, và cả một dân tộc thành con nợ, và trả nợ chẳng khi nào trả cạn! Trường hợp vay nước và trả nợ của Mễ Tây Cơ là dẫn chứng điển hình. Chủ nợ Trung Quốc so với Hoa Kỳ còn nghiệt ngã nhiều lần!

Cũng theo tài liệu Liên Hiệp Quốc, thế giới có hơn 38,000 thủy đập, và riêng Trung Quốc chiếm hơn nửa số thủy đập đó. Chúng ta thấy ngay cái cảnh thiếu nước và bao nỗi khó khăn trong việc giữ nước của đồng bào quê hương mình. Việc “giữ nước” lại cần phải có sức dân sức nước, tức kết hợp toàn dân trong một khối hơn 80 triệu người trong nước và hải ngoại… có hồn dân hồn nước để giữ nước. Từ những vấn đề như vay nước, lọc nước, dùng nước… nước uống cho chí nước tiêu dùng trong công nông nghiệp.

Việt Nam là nước hạ nguồn, bị nô lệ bởi thiên nhiên là lẽ tất nhiên. Nhưng việc giữ nước lại do khả năng con người qua những chính sách sáng tạo để ứng dụng, chớ không chỉ dành giật hay cướp đoạt chính quyền như bao người lầm tưởng, mà bỏ quên cái đập nước! Từ ngày Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam cướp chính quyền tới nay qua thời gian gần thế kỷ, nhưng chưa thấy bao giờ tiên liệu về mục tiêu nước, hay yếu tố nước… ngược lại ho chuyên dùng bạo lực làm cứu cánh để biện minh cho phương tiện nước non!

Nước là nhu cầu sinh thái (ecosystem) của thực vật, động vật và con người. Nước là tác động chung phần (collective security) trong môi trường an sinh. Nước dùng nhiều ắt cạn. Nông nghiệp là ngành tiêu thụ nhiều nước nhất, nước canh tác, nước trông trọt, nước chăn nuôi, nước công nghệ… và khi nước cạn, dầu cho có đóng giếng phun, và ngay đến những miền có nhiều mưa, thì cũng chỉ nước phèn. Và nhận xét chung tai ương thiếu nước hôm nay xảy ra do “cái đập,” làm thay đổi khí hậu, thời tiết cho chí mạch ngầm… và nếu đóng giếng, thì nước lấy lên cũng là độ mặn như Mễ Tây Cơ và nhiều nơi khác khổ công mà không còn nước ngọt (fresh water).

Xung quanh hoàn cầu, phẩm chất trung thực của hệ động vật với nước cũng bị đe dọa, liên hưởng tác động trong sinh hoạt con người. Nước ô nhiễm đã làm biến thể cư dân, diệt trừ ngư sinh, bùng phát thương mại, đấu tranh nguồn nước, và làm thay đổi khí hậu tạo cho địa cầu càng ngày càng hâm nóng… Còn đặt vấn đề bảo vệ môi trường an sinh thì những nhà soạn định chính sách (policy decision maker) mới chỉ mang mặc khái niệm công bình, và đặt căn cứ tư tưởng trên nhân quyền để bảo vệ… chớ chưa giải quyết trọn vấn đề của con người toàn vẹn trong môi trường lành mạnh đúng thực (It brings everyone to the level of shared depend on an intact, health evironment).

Chìa khóa tâm tư mở cửa lòng con người hôm nay chưa có, vì còn qúa mới mẻ với nhu cầu nước, và chính sách phát nước toàn cầu. Theo tài liệu của nhóm nghiên cứu ngư sinh Hoa Kỳ (American Fisheries Society) thì lượng nước ẩm trong đất bị tiêu hao từ thời lập quốc ở những năm 1780 đến 1980, trung bình mất 24 mẫu mỗi giờ (The amounted of wetlands lost between the 1780s and 1980s averaged more than 24 hectares – 60 acres – an hour for every hour of those 200 years). Ðó là bằng chứng cụ thể trong việc dùng nhiều thì hết.

Ðang khi nước cạn thì đất canh tác bị chai (soil degradation). Ðất nước bị ô nhiễm (pollution) bởi con người khai thác khoáng mỏ, lâm sản, vùng chăn nuôi gia súc, kỹ nghệ, thành thị… Tác hại nhất là đất canh nông sa thải độc tố vào nguồn nước như organochlorines, DDT, toxic chemicals… nước không tinh khiết, và các dân hạ nguồn lãnh đủ mọi độc hại… Hơn nữa, những biến chứng do nguồn nước ô nhiễm gây ra như gia súc chăn nuôi lây nhiễm H5N1 từ chim trời… Tất cả thành mối lo cho dân tộc Việt chúng ta sống ở hạ nguồn.

Công cuộc đấu tranh cho an sinh của người Việt được ghi nhận là mục tiêu nước, nguyên tố nước. Nghiên cứu tài liệu nông ngư Việt Nam chúng ta thấy rằng các chính sách việc nước thì nhà cầm quyền Hà Nội không có khả năng giải quyết. Vì họ thiếu cái nhìn tổng hợp chính trị toàn cầu, những nguyên tắc góp phần an ninh sống chung, trật tự thế giới mới (collective security, new world order) trong một thể chế dân chủ đa đảng, đặc biệt sau thời kỳ chiến tranh những suy tư và khám phá mới mang tính chất đúng đắn, nguyên tắc giải quyết trên căn bản của con người toàn vẹn và đúng thực.

Tóm lại, việc “giữ nước” của dân tộc nơi miền hạ nguồn như Việt Nam ngày nay cần có một hiệp ước của “các nước thượng nguồn,” nhằm đạt đến thỏa thuận để bảo đảm 4 điểm như sau:

Kế hoạch phát triển giòng sông phải chiết tính các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường an sinh tùy thuộc vào nước lũ lụt trong đó có nghề chăn nuôi và đánh bắt cá, như đã nói trên.
Nguyên tắc phân phối nước trong chương trình xử dụng nước của các quốc gia, từ thượng nguồn xuống tới hạ nguồn, xây dựng đập thủy điện thủy lợi phải được cân nhắc kỹ lưỡng tới nhu cầu sinh thái (ecosystem) của con người, động vật và thực vật để bảo đảm khối lượng và chất lượng nước và cá một cách ổn định lâu dài.
Các công trình thủy đập, thủy điện, và thủy lợi từ thượng nguồn xuống tới hạ nguồn phải được Ủy Ban quản trị chặt chẽ và duy trì môi trường an sinh. Trên những văn bản về việc xa thải nước công nghệ, nước nông nghiệp, nước gia cư xuống sông phải được thanh lọc không còn hóa chất hay độc tố trước khi cho ra giòng sông, và gìn giữ sức chảy của sông, không xả qúa khối lượng nước nhiều vào mùa cạn, và không đóng nước trên thượng giòng vào mùa mưa để mà tích lũy nước.
Những nhà nghiên cứu, điều hành và quản trị giòng nước của Ủy Ban Quốc Gia Việt Nam phải là những chuyên viên có học hành và nghiên cứu đàng hoàng, chớ không phải anh 2 chị 3 là đảng viên cộng sản có bằng tiến sĩ bổ túc hai năm… với khả năng làm việc đại loại của đảng cộng sản như thế thì đành mất nước! Ví dụ, ông Bành Văn Ðởm chưa biết ký tên mà đã làm giám đốc rừng quốc gia U Minh từ những năm 1975 đến thập niên 2000 là dẫn chứng điển hình.

Lũ lụt thiên nhiên trên giòng Sông Cửu Long là nhịp đập trong trái tim của Nước Việt Nam, và khi tim ngừng đập hoặc đập yếu, thì Dân Tộc Việt Nam khó thở và chết!

Thần Báo
Góp ý

Thread Tools Search this Thread
Search this Thread:

Advanced Search
Display Modes

Quyền Hạn Diễn Đàn
Diễn Đàn Jump


Múi giờ thành phố Sàigòn GMT +7. GIỜ VIỆT NAM LÀ: 01:23.


Powered by vBulletin® Version 3.8.4
Copyright ©2000 - 2010, Jelsoft Enterprises Ltd.
Dấu Tiếng Việt: Tắt  BDCN  VIQR+  Telex  VNI   mViet


This site is hosted by STAMINUS.NET
Vietland is freely copied, distributed, adapted, printed or displayed in public without asking anyone's permission or paying a fee.
Opinions expressed on Vietland are those of the individual posters and do not necessarily reflect the opinions of Vietland or its staffs