Vietland

 

Trở lại   Vietland > DIỄN ĐÀN TIN TỨC THỜI SỰ > DIỄN ĐÀN THẢO LUẬN CHÍNH TRỊ

DIỄN ĐÀN THẢO LUẬN CHÍNH TRỊ
Nơi đăng những bài viết thời sự chính trị nóng bỏng
liên quan đến hiện tình đất nước để cùng nhau thảo luận

Góp ý
 
Thread Tools Search this Thread Display Modes
  #1  
vietland vietland is offline
Điều Hành
 
Join Date: Jun 2008
Posts: 1,012
Default Ai Giết Anh Em Ngô Đình Diệm

Old Ngày 30-10-2009, giờ 01:03
LTS: Ghi chú: Bài viết trong cuốn sách "Ai Giết Anh Em Ngô Đình Diệm" Sách do nhà xuất bản Việt Cộng Thanh Niên phát hành nên trong bài viết có thể có những lời lẽ, cách hành văn không thích hợp, tuy nhiên đây là một tài liệu cần đọc để biết .

Định mệnh an bài

Sáng sớm ngày 2-11-1963, sau một đêm dài không ngủ, trong lúc tiếng súng vẫn còn nổ lẻ tẻ đâu đây với nhiều đám khói tại trung tâm Sài Gòn, từ các máy thu thanh phát ra lời loan báo của phe đảo chính, đã hạ được dinh Gia Long thủ phủ cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng anh em ông Diệm đã trốn thoát.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, Đài phát thanh Sài Gòn loan một tin vắn tắt: “Anh em ông Diệm bị bắt tại Chợ Lớn, và đã tự tử”? Dư luận bàn tán xôn xao, phần đông nghi ngờ: Không tin anh em ông Diệm đã chết và nhất là không tin anh em ông Diệm tự sát. Vì ai cũng biết: Tổng thống Diệm là một trong những người ngoan đạo, mà Thiên Chúa cấm tự sát. Trong khi ấy phe đảo chính không cho biết thêm tin tức nào về cái chết của Diệm, Nhu. Và báo chí không dám nói rằng anh em ông Diệm bị giết.

Ngày 6-11-1963, nhật báo New York Time in hình xác Tổng thống Diệm bị còng tay với lời chú thích “suicide with no hand” (tự sát không có tay). Có ý mỉa mai lời thông báo của phe đảo chính rằng anh em ông Diệm đã tự sát. Về sau, người ta đã có thể công khai nói rằng anh em cố Tổng thống bị giết. Nhưng ai giết? Và ai ra lệnh giết? Đó là một nghi vấn cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn phơi bày ra trước ánh sáng.

Người viết không dám làm công việc của một sử gia, mà chỉ muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc soi sáng cho một giai đoạn gay go của lịch sử, một giai đoạn đầy những biến chuyển và bí mật.

Giây phút cuối cùng

Trước khi nhận định toàn bộ về con người Ngô Đình Diệm và chế độ của ông ta chúng tôi xin ghi lại những giây phút cuối cùng của cuộc đời một Tổng thống “Việt Nam Cộng Hòa”.

Nhân dịp tiếp các phái đoàn quân chính trong ngày 26-10-1963, Tổng thống Diệm, bằng một giọng ai oán, thoáng buồn ông nói: “Chế độ này tuy còn nhiều khuyết điểm, cũng còn hơn nhiều chế độ khác...

Người ta chê là độc tài nhưng chỉ ngại còn những thứ độc tài khủng khiếp hơn. Tôi tiến thì theo tôi, tôi lui thì bắn tôi, tôi chết thì trả thù cho tôi”.
Trong thời gian này tinh thần của Tổng thống Diệm đang trải qua cơn dao động cực độ. Những nhân vật gần ông đều nhận thấy ông trở nên nóng nảy bất thường, hay thở dài, nét mặt đăm chiêu thoáng buồn. Có lẽ Tổng thống Diệm đã linh cảm được tai họa sắp đến với ông ta, gia đình và chế độ. Ông Ngô Đình Nhu lại càng biểu hiện một cách mau chóng. Ông Nhu già hẳn đi, nét mặt chảy dài. Bức hình của ông Nhu đăng trên tuần báo Express số 909 - (15-12-1968) chính là mấy bức hình chụp vào những ngày cuồi cùng trong đời ông. Khuôn mặt ông Nhu càng in một vẻ căm giận cùng với vẻ đẹp của đường nét điêu khắc.

Tuy nhiên ông Nhu vẫn giữ được vẻ điềm tĩnh và sẵn sàng đối phó...
Sáng sớm ngày 30-10-1963 ông Diệm lững thững đi xuống vườn hoa trước cửa dinh Gia Long, ngắm mấy chậu non bộ nhỏ mới đắp xong và đặt dưới gốc cây. Ông bận bộ đồ xám nhạt, đội mũ len chống chiếc ba toong như khi đi thăm địa điểm dinh điền. Ông ngắm vài phút ngó lên bức ảnh lớn của ông treo cao đằng sau bàn giấy của ông Đổng Lý Bộ Phủ tổng thống rồi mỉm cười lên lầu.

Tiếp khách lần cuối

Ngày 31-10, hầm trú ẩn xây trong dinh Gia Long đã hoàn tất, để có thể chịu đựng được loại bom 500 kilôgam. Cũng vào ngày đó, ông Ngô Đình Nhu tiếp kiến các đại diện Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ Phật giáo. Cùng ngày phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật giáo miền Nam đáp máy bay ra Huế để tiếp tục cuộc điều tra. Đại sứ Cabot Lodge đã nhận được đầy đủ tin tức về kết quả và thái độ của Phái đoàn này tại Sài Gòn và thấy rằng sẽ bất lợi cho những toan tính âm mưu của ông. Vụ đàn áp Phật giáo phải được duy trì để lấy cớ lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm như ông Lodge mong muốn.

Sáng 1-11 nhằm vào ngày lễ các Thánh, công sở đều được nghỉ, Tổng thống Diệm đã tiếp người bạn “đồng minh” Hoa Kỳ cuối cùng trong đời ông. Đó là Đô đốc Harry D.Felt, Tổng tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình dương. Đô đốc Harry D.Felt chắc hẳn biết rõ những gì xảy tới, trong mấy giờ nữa sẽ kết thúc chế độ của Tổng thống Diệm mà ông ta theo lễ nghi vẫn xưng tụng như một nhà lãnh đạo anh minh của miền Nam.

Hồi 13 giờ 30 súng bắt đầu nổ từ nhiều nơi trong đô thành... Ai gây nên tiếng súng đó? Bắt đầu từ một thế lực nào? Tướng lãnh? Quần chúng? Mỹ?

Thực ra, những âm mưu lật đổ Tổng thống Diệm đã sắp đặt từ tháng 5-1963, rồi được âm thầm tiến hành... Buổi tối ngày 28-10, do sự sắp xếp từ trước Trung tướng Trần văn Đôn đã tiếp xúc bí mật với giới chức Mỹ tại nhà một nha sĩ [1]. Tướng Đôn luôn luôn nhắc nhở người Mỹ giữ bí mật hoàn toàn và không thảo luận vấn đề này với bất cứ một ai, ông ta đã cố gắng thuyết phục Đại sứ Cabot Lodge chấp nhận chương trình hành động của nhóm ông và làm như thế nào để Hoa Kỳ đồng ý cho bật đèn xanh càng sớm càng tốt.

Lúc đầu nhóm đảo chính dự định khai hỏa vào ngày 31-10 (theo sự tiết lộ của Đại tá Lu Conein).

Trước nữa, nhóm đảo chính cùng với sự đạo diễn của mấy chuyên gia CIA đã dự định đảo chính nhân ngày kỷ niệm 26-10. Nhưng đêm 25-10 ông Nhu đã nhận được báo cáo đầy đủ: Nhóm đảo chính với các tướng Đôn, Minh ra tay hành động trong cuộc duyệt binh tại đường Thống Nhất vào sáng 25-10. Dịp này sẽ bắt sống Tổng thống Diệm và ông Nhu sau đó sẽ thanh toán dinh Gia Long và thành Cộng Hòa. Vào phút chót, ông Sinh Trưởng phòng CIA Tòa đại sứ Mỹ (người thay thế Đại tá Rieharson) đã thông báo kịp thời cho Lu Conein biết là chưa thể bật đèn xanh bởi có kẻ trong Tòa đại sứ Mỹ tiết lộ cho ông Nhu. Hiển nhiên là Cabot Lodge đã đóng vai trò một nhà “lãnh đạo” đứng bật đèn cho cuộc đảo chính 1-11-1963. Cabot Lodge được coi như tiếng nói có thẩm quyền của phe “Tự do” Harriman.

Những nguyên nhân nào khiến cho Mỹ phải gấp rút tìm mọi cách lật đổ chế độ Tổng thống Diệm? Hẳn nhiên, về phía Mỹ không phải là nguyên nhân Phật giáo. Đơn giản vì quyền lợi nước Mỹ trước hết.
Cái gai chính yếu của Đại sứ Cabot Lodge cũng như Smith Conein và nhóm đảo chính là tướng Tôn Thất Đính.

Làm sao nhổ được cái gai này? Tuy nhiên, cho đến ngày 28-11 tướng Đôn có thể đã tạm yên tâm về mặt tướng Đính. Điều mà phe đảo chính lo ngại nhất là Lực lượng đặc biệt của Đại tá Lê Quang Tung. Lực lượng này vẫn được coi như thành phần nòng cốt của chế độ Ngô Đình Diệm. Ngày 29-12, tướng Tôn Thất Đính với tư cách Tư lệnh Quân đoàn III (và từng là Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định) ra lệnh cho các đơn vị thuộc Lực lượng đặc biệt di chuyển ra khỏi Sài Gòn. Đó cũng là một phần kế hoạch nhằm vô hiệu hóa những lực lượng trung thành với chế độ. Hơn nữa, tướng Đính đang được lòng tin cậy của ông Nhu. Theo dư luận đồn đại sau ngày đảo chính, ngày 1-11-1963 thì chính ông Nhu đã giao phó cho tướng Đính thực hiện một cuộc đảo chính giả với danh hiệu Bravo I và II nhằm phá vỡ kế hoạch đảo chính thực của nhóm tướng lĩnh đang liên kết với Cabot Lodge.
Nếu thực sự cuộc đảo chính sẽ xảy ra, ông Nhu chấp nhận một cách không nghi ngờ việc tướng Đính “móc nối” với nhóm Đôn, Minh. Chính ông Nhu đã từng nói với tướng Huỳnh văn Cao: “Khánh với Đính là chỗ người trong nhà cả. Không lo”. Ông Nhu tuy cao tay lắm nhưng đâu có thể học được chữ ngờ qua trường hợp của tướng Đính! Tương kế tựu kế, tướng Đính nắm cơ hội này để quật ngược lại thế cờ Không có sự tham gia của tướng Đính, cuộc đảo chính 1-11-1963 không thể thành công.

Cái lối của ông Nhu là cái lối của một nhà chiến thuật và chiến lược, nhìn và tiên liệu quá xa phạm vi hạn hẹp của chiến thuật, giai đoạn. Hơn nữa, vì lòng tin cậy, ông Nhu đã chọn nhầm một người mà chính trước đây ông Nhu cho là “khó xài” Nhưng vẫn sử dụng vì cho rằng mình cao tay ấn.
Mặt khác, trước đó Đại tá Đỗ Mậu quyền Giám đốc Nha An ninh quân đội, một môn đệ tin cậy của Ngô Đình Diệm đã phúc trình cho hai ông Nhu, Diệm biết VC [2] đang tập trung tại vùng ven đô và âm mưu đánh phá Sài Gòn. Dĩ nhiên đây chỉ là bản phúc trình giả với mục đích làm lạc hướng theo dõi của chính quyền và đồng thời có cớ để phân tán một số đơn vị trung thành của Diệm ra khỏi Sài Gòn. Như vậy phe đảo chính sẽ giảm thiểu được sức chống đối của phe Chính phủ [3].

Hồi 12 giờ 30 ngày 1-11, tướng Trần văn Đôn cùng một số tướng tá nòng cốt triệu tập Hội nghị trong Bộ Tổng tham mưu với sự tham gia của hầu hết các tướng lãnh và một số Tư lệnh quân binh chủng. Tướng Tôn Thất Đính không có mặt trong Hội nghị này, lúc đó ông ta đang phải túc trực tại tổng hành dinh Quân đoàn III. Người thì cho rằng đến giờ phút quyết liệt, phe đảo chính vẫn chưa tin hẳn tưởng Đính. Và có lẽ đó cũng là lý do tướng Đính không có mặt trong Hội nghị quan trọng đó.

Thiện chí nhà giàu

Theo tiết lộ của Georges Chaffard qua bài báo tựa đề La paix manquée en 1963 [4], để lôi kéo tướng Đính vào phe đảo chính, Mỹ đã trao cho tướng Đính một số tiền ứng trước là một triệu Dollars do kết quả sự thương lượng giữa tướng Đôn và Đại sứ Cabot Lodge ngày 24-10. Số tiền ứng trước này được coi là thiện chí cụ thể của Mỹ giúp phe đảo chính có chút phương tiện để thực hiện kế hoạch [5].

Tưởng cũng nên nhắc lại, khoảng cuối tháng 10, dư luận trong chính giới và ngoại giao đoàn đã đồn đại về những hoạt động của nhóm mật vụ Pháp thuộc Sở “Hành Động” (Action) do tướng De Gaulle gởi qua Sài Gòn vì nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho hai anh em ông Diệm.

Sáng 1-11, Đại sứ Cabot Lodge hướng dẫn Đô đốc Felt đến dinh Gia Long thăm xã giao Tổng thống Diệm. Nhân dịp này Tổng thống Diệm đã Cabot Lodge biết là đang có dư luận về một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống. Ông Diệm nói như thế là có ý bảo cho ông Cabot Lodge biết, ông ta luôn luôn theo dõi đường đi nước bước của Mỹ trong âm mưu lật đổ chế độ hiện hữu. Đại sứ Cabot Lodge vẫn một nụ cười vồn vã hứa chắc với ông Diệm, nếu có sự chẳng hay xảy ra như dư luận đồn đại, người Mỹ sẽ đảm bảo cho cá nhân Tổng thống.

Cũng vào khoảng thời gian đó, Đại tá Lu Conein đã đến gặp tướng Đôn và túc trực bên phe đảo chính trong suốt ngày 1 và ngày 2 tại Bộ Tổng tham mưu. Ông ta là trung gian giữa Tòa đại sứ Mỹ và phe đảo chánh. Hay đúng hơn, ông ta thủ vai trò của kẻ điều động và thực hiện kế hoạch đã được thảo luận và quyết định chung giữa Tòa đại sứ Mỹ và phe đảo chính [6]?

Khi ở dinh Gia Long trở về, Đại sứ Lodge đã nhận được đầy đủ tin tức từ Bộ Tổng tham mưu báo cáo cho biết kế hoạch tiến hành.

Rồi một ngày trôi qua như mọi người đều biết, cuộc đảo chính hoàn toàn thành công với sự xuất hiện của các tướng lãnh mang danh xưng là những con người cách mạng và ở trong tổ chức mới, lúc đầu mệnh danh “Hội đồng các tướng lãnh” sau đổi thành “Hội đồng Quân nhân Cách mạng”.
Nhằm vào đúng ngày lễ các đấng linh hồn, một trong những ngày lễ quan trọng nhất của tín đồ Thiên chúa giáo, hai anh em Tổng thống Diệm cùng bị thảm sát sau khi đã dâng trọn những lời cầu nguyện cuối cùng tại nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn, với sự chứng kiến của Linh mục Jean - Một Linh mục thuộc Hội Thừa sai Pa-ri (MEP).

Chi tiết về cái chết của Tổng thống Diệm đến nay tuy không còn là điều bí mật song đã có quá nhiều những chi tiết mâu thuẫn nhau.

Trong những giờ phút cuối cùng, Ngô Đình Diệm đã tỏ ra hoàn toàn mệt mỏi và không còn tin tưởng bao nhiêu khi phe đảo chính báo cho anh em ông biết là đã bắt Đại tá Tung và ông này cùng lực lượng của ông đã đầu hàng phe “Cách mạng” [7]. Tổng thống Diệm bây giờ chỉ còn đặt tin tưởng vào Quân đoàn 3 của tướng Huỳnh văn Cao và nhất là Quân đoàn 2 của tướng Khánh mà ông Nhu hoàn toàn tin cậy. Song tướng Cao đã không làm được gì khác hơn. Sư đoàn 7 nằm trong tay Đại tá Nguyễn Hữu Có phụ tá Tư lệnh Quân đoàn. Anh em ông Diệm chỉ còn lại lực lượng phòng vệ trong dinh. Tất nhiên lực lượng này không còn phương thế hoạt động nào khác hơn là đành thúc thủ trong bốn bức tường thành Cộng Hòa và dinh Gia Long. Trước một tình thế bi đát như vậy, ông Nhu quyết định ra đi - Tổng thống Diệm mặc nhiên chiều theo quyết định của em “Đi mô... đi thì đi...” Đó là lời nói gió cuốn mây trôi của Tổng thống Diệm.
8 giờ 30 Tổng thống Diệm, ông Nhu, Đại úy Đỗ Thọ và Đại úy Bằng rời khỏi dinh Gia Long trên bước đường của định mệnh.

Khi tiếp thu dinh Gia Long, Trung tá Phạm Ngọc Thảo không tìm thấy anh em ông Diệm nên đã cấp báo cho tướng Trần Thiện Khiêm rõ. Tướng Trần Thiện Khiêm ra lệnh cho Trung tá Thảo phải tìm kiếm... Theo tiết lộ của những người trong cuộc, tướng Khiêm dặn Phạm Ngọc Thảo phải tìm mọi cách đón anh em ông Diệm, phải bảo vệ an ninh cho anh em ông ta, có được như vậy thì tướng Khiêm và phe của Trung tá Khải mới có thể thực hiện được kế hoạch lật ngược thế cờ.

Khi được tin dinh Gia Long đã thất thủ thì lúc ấy chính là lúc trong Hội đồng Quân nhân cách mạng và nhóm tướng tá đảo chính cũng đã chia thành năm bảy phe qua những xu hướng chính trị và quyền lợi trái ngược nhau.

Riêng Trung tá Phạm Ngọc Thảo từ trước ngày đảo chính đã có những liên lạc mật thiết với Đại tá Đỗ Mậu và tướng Khiêm. Ông Thảo là người được tướng Khiêm tin cậy và cả hai đều là những tướng tá được chế độ tin dùng. Riêng tướng Khiêm sau vụ đảo chính hụt, ông trở thành vị tướng lãnh thân cận của Tổng thống Diệm và được coi như người con “tin cẩn” trong gia đình Tổng thống.

Trong đường lối và trong thâm tâm của phe Phạm Ngọc Thảo chỉ muốn thay đổi cơ cấu của chế độ mà thôi...

Song tình thế đã biến chuyển khác hẳn và trái với ước mong của Phạm Ngọc Thảo từ buổi đầu. Ông Thảo hẳn đã biết rõ những xu hướng khác nhau trong Hội đồng Quân nhân cách mạng trong đó đã có một xu hướng chủ trương phải giết anh em ông Diệm để trừ hậu họa và đó cũng là chủ trương của một số nhân vật Mỹ mà ông Fisthel là đại diện. Ông này vẫn chủ trương: Chế độ Ngô Đình Diệm phải được cải tổ toàn bộ nếu Tổng thống Diệm không chịu thì Tổng thống phải ra đi hoặc bị thủ tiêu.
Xu hướng thanh toán Tổng thống Diệm quy tụ ử mấy tướng lãnh đã sẵn lòng bất mãn với Diệm từ lâu... Đó là các tướng Trần Tử Oai, Mai Hữu Xuân. Mặc dầu những người như Trung tướng Trần văn Đôn từng được chế độ của Tổng thống Diệm đặc biệt ưu đãi, tin cẩn trong suốt chín năm cũng muốn thay đổi Chính phủ Diệm.

Tướng Đôn liên tiếp được giao phó những chức vụ quan trọng, từ Tư lệnh vùng I đến Tư lệnh lục quân, rồi quyền Tổng tham mưu trưởng. Ba tướng Đôn, Kim, Oai được coi là thành phần nòng cốt của Hội đồng Quân nhân cách mạng. Người Mỹ tin cẩn vào tướng Đôn hơn cả. Sở dĩ tướng Dương văn Minh được Mỹ giao phó vai trò chính vì đối với quân đội lúc ấy và trong hàng tướng lãnh thì uy tín của tướng Minh nổi bật hơn cả.

Có thể nói năm tướng Minh, Đôn, Kim, Oai, Xuân đứng riêng một phe. Chưa có chứng cớ nào rõ rệt để nói rằng tướng Khiêm, Đại tá Mậu, Trung tá Thảo đứng về một phe khác không mấy thân thiết và tín cẩn đối với phe kia. Nhưng dù sao tướng Khiêm vẫn là người tỏ ra ôn hòa với chế độ Ngô Đình Diệm mà chính ông ta đã trưởng thành trong chế độ ấy. Còn Trung tá Phạm Ngọc Thảo - một tín đồ Thiên chúa giáo có đầu óc tiến bộ và quốc gia cực đoan, kể từ biến cố Phật giáo, ông quyết liệt chủ trương phải thay đổi thành phần và cơ cấu của chế độ. Trung tá Thảo là người thứ nhất đã can đảm trình bày với tướng Khiêm đang nắm quyền Tham mưu trưởng Liên quân, cái trục hên lạc thân thiết của Trung tá Thảo: Thảo, Mậu, Tuyến. Thảo là bạn tâm tình của bác sĩ Trần Kim Tuyến và chính Thảo cũng đã thẳng thắn tỏ bầy ước vọng và kế hoạch của ông cho bác sĩ Tuyến rõ.

Kể từ đầu tháng 5-1963 theo sự lượng tính và tiên liệu của bác sĩ Tuyến nếu không kịp thời có một chương trình hành động để cứu nguy chế độ thì khó lòng ngăn ngừa được cuộc đảo chánh. Trung tá Thảo cũng lo âu như thế. Từ khi ông Tuyến ra đi thì Thảo không còn gì ràng buộc mật thiết với chế độ. Song Thảo vẫn tiếp tục móc nối với một số tướng tá vẫn được coi là người của chính quyền, nhằm thực hiện một cuộc đảo chính cốt sửa sai, hơn là san bằng đồng thời có thể ra tay trước phe tướng Minh và vô hiệu hóa mọi âm mưu trong kế hoạch của họ và lật ngược thế cờ để nắm phần chủ động.

Thảo đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đảo chính 1-11-1963 và Thảo được đặt dưới quyền sử dụng trực tiếp của Khiêm.

Dù chủ trương như thế nào, Thảo cũng đã là một trong những người thân tín của chế độ Diệm. Ông Thảo đã được Hội đồng Quân nhân cách mạng giao phó phần phát thanh. Đây mới là thứ vũ khí sắc bén nhất để xô đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Ví như không có phần phát thanh từ lúc đầu thì cục diện chưa chắc đã thay đổi mau lẹ.

Khi phe Minh, Đôn, Kim nhận được tin Ngô Đình Diệm đang ở Chợ Lớn đã cấp tốc ra lệnh cho Đại tá Dương Ngọc Lắm đem thiết quân vận M 113 vào đón bắt. Đại tá Lắm lúc ấy đang nắm quyền Tổng giám đốc Địa phương quân (một trong số tướng tá được chế độ đặc biệt ưu đãi, tin dùng). Ông Lắm là người theo đảo chính vào phút chót. Tất nhiên là ông đã không được sự tin cậy của phe chủ chốt. Do đó, Mai Hữu Xuân được Minh chỉ định đi theo giám sát Lắm.

Tóm lại, đã có hai toán quân vào Chợ Lớn tìm bắt anh em Tổng thống Diệm. Mỗi toán có thể nói thuộc về một phe, nhằm mục đích riêng. Nếu Trung tá Thảo biết rõ anh em ông Diệm đang ở nhà thờ Cha Tam thì cái chết đã không đến với hai anh em ông Diệm, ít nhất là đã cứu thoát được ông Diệm. Song Thảo lại chỉ đến lục soát nhà Mã Tuyên trong lúc anh em Tổng thống Diệm đang dâng lễ ở nhà thờ Cha Tam. Ông Thảo trở về tay không đồng thời cũng mang theo sự thất bại của nhóm ông.

Và có phải chính ông Diệm báo tin cho Khiêm để nhận sự đầu hàng và cho biết đang ở nhà thờ Cha Tam không? Một nghi vấn cho rằng: Có lẽ viên sĩ quan tùy viên của ông vào phút chót đã phản phúc và báo cho phe đảo chính biết nơi hai anh em đang trú ẩn. Sự thực không phải Đại úy Đỗ Thọ đã phản phúc. Đại úy Đỗ Thọ được Tổng thống bảo đi gọi điện thoại về Bộ Tổng tham mưu cho Khiêm nhưng Thọ lại gọi điện thoại trực tiếp cho Đỗ Mậu là chú ruột của mình.

Vậy thì hai anh em ông Diệm có đầu hàng phe đảo chính không? Những diễn biến tại dinh Gia Long và tại nhà Mã Tuyên từ 12 giờ 30 ngày 1-11-1963 đến 4 giờ đêm ngày 2-11 sẽ giúp cho sử gia sau này đi đến một kết luận rõ rệt hơn.

Khi Đại tá Lắm đem quân đến nhà thờ Cha Tam thì lúc đó Hội đồng Quân nhân cách mạng vẫn chưa có quyết định dứt khoát về số phận chung của anh em ông Diệm. Một người trong cuộc cho biết: “Anh nào cũng run hết trước một quyết định dứt khoát quan hệ đến sự thành bại của cuộc đảo chánh”. Hội đồng chia thành 3, 4 phe: Một phe nhất định phải thanh toán ngay anh em ông Diệm. Tuy nhiên phe này chỉ rỉ tai bàn kín với nhau thôi. Phe khác chủ trương để anh em ông Diệm lưu vong ra ngoại quốc. Phe thứ ba giữ thái độ dè dặt... Phe quyết định thanh toán Diệm lấy cớ rằng, nếu anh em ông Diệm còn sống thì cuộc đảo chính sẽ bất thành, vì tay chân của ông không sớm thì muộn cũng sẽ phản công. Vả lại, phe này thấy rằng ngay trong Hội đồng Quân nhân cách mạng cũng đã quá phần nửa từng là người thân tín của Diệm và Nhu. Điều lo ngại hơn nữa là họ vẫn chưa nắm được tướng Tôn Thất Đính mà binh quyền đang nằm gọn trong tay Đính cũng như một số tướng tá khác như Nguyễn Khánh Quân đoàn II, Huỳnh văn Cao Quân đoàn IV, Cao văn Viên Tư lệnh nhảy dù và Huỳnh Hữu Hiền Tư lệnh Không quân (Hai sĩ quan Viên và Hiền đã thẳng thắn từ chối tham gia phe đảo chính). Giả sử nếu đưa anh em ông Diệm về trình diện Hội đồng Quân nhân cách mạng thì biết đâu sự hiện diện của anh em ông lại không thể làm nản lòng và gây xúc động lương tâm của những người thân tín cũ của ông. Nếu chỉ nhằm đến mục đích hoàn thành cuộc đảo chính và tránh mọi hậu họa thì phe này khi ra tay hạ sát Tổng thống Diệm cũng không có gì khó hiểu.

Đao phủ

Ai giết anh em Tổng thống Diệm? Theo Robert Shaplen trong cuốn The Lost Revolution thì có hai dữ kiện: Dữ kiện thứ nhất theo đó chính Mai Hữu Xuân đã ra lệnh giết anh em ông Diệm. Dữ kiện thứ hai và có đủ yếu tố thì chính Dương văn Minh Chủ tịch Hội đồng Quân nhân cách mạng đã trực tiếp ra lệnh hạ sát. Người thi hành lệnh đó là Đại úy Nhung.

Trước vụ thảm sát này, một số tướng lãnh trong Hội đồng Quân nhân cách mạng đã phản đối và đặc biệt tướng Đính đã nổi giận dữ dằn, đập điện thoại và gục đầu khóc ngay tại văn phòng của ông ở trại Lê văn Duyệt (mặc dù theo ký giả David Habertam của tờ New York Time số ra ngày 6-1-1963 thì ông Đính là người phản bội ông Diệm, nếu không có sự phản bội của tướng Đính thì cũng chưa có cuộc đảo chánh 1-11-1963).
Thi hài anh em Tổng thống Diệm được đặt trong hai bộ quan tài thuộc loại trung bình rồi được âm thầm an táng trong vòng thành Bộ Tổng tham mưu với sự hiện diện của người cháu gái. Hai anh em ông được làm thủ tục khai tử tại quận Tân Bình. Về nghề nghiệp của Tổng thống Diệm được ghi là Tuần vũ và ông Nhu là Quản thủ Thư viện.

Khi tướng Nguyễn Hữu Có làm Tổng tham mưu trưởng đã nghe lời một thầy địa lý và bói số cho rằng, nếu không cải táng anh em ông Diệm đến một nơi khác thì sẽ còn đảo chánh. Do đó di cốt anh em Tổng thống Diệm được đưa ra nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi.

Tác giả: Quốc Đại






[1] Theo bản báo cáo mật của Cảnh sát đặc biệt thuộc thẩm quyền của ông Dương văn Hiếu - Phó tổng giám đốc cảnh sát quốc gia.
[2] Thời đó chính quyền Sài Gòn gọi những chiến sĩ cách mạng là Việt cộng viết tắt là VC.
[3] Chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập ở miền Nam Việt Nam.
[4] Tuần báo Express số 909.
[5] Theo một tài liệu khác thì tướng Đôn đã nhận ba triệu đồng VNCH để chia cho các đơn vị tham gia đảo chính và các tướng lãnh khác.
[6] Theo sự tiết lộ của Lu Conein thì ông được mời đến với tư cách Cố vấn Mỹ tại Bộ Nội vụ tham dự phiên họp thường lệ của Bộ Tổng tham mưu và sau khi đảo chính xảy ra thì tướng Đôn giữ khéo Lu Conein ở lại Bộ Tổng tham mưu như một thứ con tin và một bảo đảm an ninh cho các tướng lãnh.
[7] Chỉ phe cánh đảo chính.
Reply With Quote
  #2  
vietland vietland is offline
Điều Hành
 
Join Date: Jun 2008
Posts: 1,012
Default

Old Ngày 30-10-2009, giờ 01:07
Ông Diệm và ông Nhu đã bị

giết như thế nào ?

Sau cuộc "chỉnh lý" ngày 30.1.1964, trước khi ra lệnh giết Đại Úy Nhung để phi tang một nhân chứng quan trọng (có lẽ theo lệnh của CIA), Tướng Nguyễn Chánh Thi đã đích thân lấy lời khai của Nhung và còn bắt Nhung ngồi viết lời khai về vụ này. Ông có cho tôi nhìn qua tờ khai này năm 1968 khi đang ở Washington D.C. Nhưng rất tiếc, khi xuất bản cuốn "Việt Nam: Một trời tâm sự", ông đã không cho in nguyên văn tờ khai này, mà tự ý sửa đổi và cắt bớt đi.

Tướng Mai Hữu Xuân được đổi thành Tướng Thu, mặc dầu trong Quân Lực VNCH lúc đó không có tướng nào tên là Tướng Thu cả. Theo tờ khai mà Tướng Thi công bố trong cuốn sách nói trên, Đại Úy Nhung đã khai như sau:


Khi xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu chạy được chừng 500 thước, Thiếu Tướng Thu (tức Mai Hữu Xuân) chạy xe ngược chiều trở lại và đưa lên một ngón tay trỏ. Đang còn ú ớ chưa biết giết ai, ông Diệm hay ông Nhu, họ định chạy qua để hỏi lại cho rõ thì dân chúng ùa ra xem rất đông, không chạy qua được. Bỗng Thiếu Tướng Thu đưa hai ngón tay, họ hiểu rằng ông ra lệnh bắn cả hai người. Thiếu tá Nhung liền rút súng Colt 12 bắn mỗi người 5 phát, và sau đó bắn ông Nhu thêm ba phát vào ngực nữa.

Tướng Lê Minh Đảo, lúc đó là Đại Úy tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, đã cho biết như sau: Sau khi ông Diệm và ông Nhu bị hạ sát ít lâu, Nguyễn Văn Nhung có kể lại chuyện này cho ông nghe.

Nhung nói rằng khi được lệnh giết cả hai ông, Nhung đã bắn ông Nhu trước. Ông Diệm thấy thế đã nhắm mắt lại. Nhung liền bắn ông Diệm 5 phát. Sau đó quay qua bắn ông Nhu thêm 3 phát nữa. Điều này phù hợp với lời khai mà Tướng Nguyễn Chánh Thi đã công bố. Tuy nhiên, sự thật không phải chỉ có thế.

Xác ông Diệm và ông Nhu đã được đưa vào bệnh xá của Bộ Tổng Tham Mưu để khám nghiệm. Bác sĩ HuỳnhVăn Hưỡn
(hiện nay ở New York), giám đốc bệnh xá này lúc đó, đã khám nghiệm và chứng nhận rằng cả ông Diệm lẫn ông Nhu đã bị bắn từ sau ót ra trước. Xác ông Diệm có nhiều vết bầm, chứng tỏ đã bị đánh đập trước khi bắn. Xác ông Nhu bị đâm nhiều nhát, áo rách nát và đầy máu. Vậy ông Diệm và ông Nhu đã bị trói, đánh đập và đâm lúc nào?

Một nhân chứng rất quan trọng hiện đang ở Melbourne, Úc Châu, cho biết ông là người đi trên chiếc M113 chở ông Diệm và ông Nhu từ nhà thờ cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu, nên đã chứng kiến những sự việc xẩy ra. Câu chuyện ông kể lại có vẽ hợp lý hơn cả. Theo nhân chứng này, vào trưa 1.11.1963, chi đoàn thiết giáp của ông được lệnh vào Sài Gòn để tăng cường bảo vệ thủ đô. Khi đến Sài Gòn, chi đội này được chia làm hai toán, một toán hợp lực với quân bạn bao vây Dinh Gia Long, một toán làm vòng đai an ninh cho Bộ Tổng Tham Mưu. Nhân chứng ở trong toán đóng tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Sáng 2.11.1963, khoảng 6 giờ 15 phút, toán ông được lệnh di chuyển ra khỏi Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vừa ra khỏi cổng chính thì thấy có 3 chiếc xe Jeep đang chờ. Chiếc thứ nhất có Tướng Mai Hữu Xuân và 3 cận vệ. Chiếc thứ hai chở Đại Tá Dương Ngọc Lắm, Đại Úy Nguyễn Văn Nhung và Đại Úy Dương Hiếu Nghĩa. Chiếc thứ ba chở 4 người, trong đó có Đại Úy Phan Hòa Hiệp. Sau đó là hai chiếc M113. Nhân chứng ngồi ở chiếc thứ nhì. Cuối cùng là 2 chiếc GMC chở đầy lính có vũ trang đầy đủ.

Khi đến Chợ Lớn, gần một nhà thờ, xe chạy chậm lại, các binh sĩ trên hai chiếc GMC được lệnh nhảy xuống, một số bố trí xung quanh nhà thờ, số còn lại bố trí ở vòng ngoài. Xe Tướng Xuân chạy một vòng rồi đậu lại bên kia đường. Sau cái phất tay của Đại Tá Dương Ngọc Lắm, ba đại úy Nhung, Nghĩa và Hiệp nhảy xuống xe. Đại Tá Lắm ngoắc chiếc M113 có nhân chứng ngồi trên đó đi theo. Nhân chứng cũng nhảy xuống xe. Khi cách Đại Tá Lắm khoảng 2 thước, nhân chứng thấy có 4 người từ trong nhà thờ đi ra.

Người đi đầu là Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Người đi tiếp theo là ông Ngô Đình Nhu. Sau cùng là hai tùy viên
(Đại Úy Đỗ Thọ và ông Nguyễn Đắc Khá). Đại Tá Lắm đến chào ông Diệm:
- Thừa lệnh Trung Tướng Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, chúng tôi đến đón cụ và ông cố vấn.

Ông Diệm:
- Ông Đôn và ông Minh đâu hè?

Đại Tá Lắm:
- Thưa cụ, hai ông còn đang bận việc ở Tổng Tham Mưu.

Ông Diệm:
- Thôi được. Thế tôi và ông cố vấn đi cùng xe kia với ông.

Đại Tá Lắm quay người lại chỉ vào chiếc M113 và nói:
- Thưa cụ, xin cụ lên xe này cho.

Ông Nhu khẻ nhíu mày lên tiếng:
- Không thể đón Tổng Thống bằng một chiếc xe như vậy. Để tôi liên lạc với ông Đôn, ông Đính coi xem.

Đại Tá Lắm khẽ nhún vai:
- Tôi không biết. Đây là lệnh của TrungTướng Chủ Tịch.

Đại Úy Nhung liền oang oang:
- Xin mời hai ông lên xe ngay cho đi.

Mặt ông Nhu đỏ bừng, giọng rất quyết liệt:
- Không được. Để tôi hỏi lại ông Minh,ông Đôn. Tôi đi xe nào cũng dược, nhưng còn Tổng Thống...

Đại Úy Nhung:
- Ở đây không còn Tổng Thống nào cả.

Ngay lập tức, Nhung bảo hai quân nhân chạy đến đẩy hai ông lên xe và kéo cửa lên... Xe đi hết đường Nguyễn Trải, vào đường Võ Tánh đến trước Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia thì ngừng lại. Tổng Nha này đã bị chiếm từ ngày hôm trước nên không còn một cảnh sát nào lui tới.

Chung quanh, các binh sĩ thuộc Sư Đoàn 5 của Đại Tá Ngưyễn Văn Thiệu canh gác rất cẩn mật.

Một Đại Tá từ trên xe Jeep nhảy xuống, bảo các binh sĩ trên xe M113 chở ông Diệm và ông Nhu xuống xe hết. Bảy người trên xe nhảy xuống, nhưng tài xế và anh hạ sĩ xạ thủ được ra lệnh ở lại. Xe được lệnh đi vào Tổng Nha.

Khoảng 20 phút sau, chiếc M113 lại từ Tổng Nha chay ra. Các binh sĩ lúc nảy được lệnh leo lên xe lại. Xe chạy ngược đường Võ Tánh trở lại đường Cộng Hòa. Nhân chứng hỏi hạ sĩ xạ thủ:
- Ông Diệm và ông Nhu đâu?
- Ở dưới.
- Sao rồi?
- Ông Nhu bị tra tấn khủng khiếp rồi bị xiết cổ chết bằng dây điện.

Người ta hỏi ông ta nhiều lần: Vàng, bạc, tiền của cất đâu? Ai giữ? Cơ sở kinh tài gồm những cơ sở nào? Ông Nhu trả lời không biết.
- Còn ông Diệm?
- Ông Diệm bị đè cổ ra trói thúc ké rồi ném vào hầm xe.
- Chết hay sống?
- Không biết.


Xe qua khỏi trường Petrus Ký rồi quẹo phải vào đường Hồng Thập Tự thì gặp lại 2 xe Jeep và hai xe chở binh sĩ lúc xuất hành buổi sáng. Xe Đại Tá Dương Ngọc Lắm đi đầu, xe thứ hai có Đại Úy Nhung. Khi đến đuờng Cao Thắng, bên hông bệnh viện Từ Dũ, xe ngừng lại vì bên kia đang có xe của Tướng Xuân chạy ngược trở lại. Dân chúng ra xem rất đông. Tướng Xuân nhìn Đại Úy Nhung và đưa hai ngón tay trái lên hai lần. Sau đó, ông đưa ngón tay trỏ lên khỏi đầu và co vào duỗi ra đến 4 lần
(gióng như bóp cò). Đại Úy Nhung gật đầu rồi đưa tay lên chào. Khi xe đến gần đường rầy xe lửa thì dừng lại trước cổng xe đã được đóng lại vì đang có đoàn xe lửa đi qua.

Đại Úy Nhung từ chiếc xe Jeep nhảy qua chiến M113 có chở ông Diệm và ông Nhu và la lớn:
"Xuống! Xuống!" Các binh sĩ trên xe M113 nhảy xuống hết. Nhân chứng vừa nhảy xuống đất thì nghe nhiều tiếng súng nổ...

Những lời tiết lộ của nhân chứng này cho chúng ta thêm những yếu tố mới, nhất là đoạn hai ông bị đưa vàoTổng Nha Cảnh Sát để tra tấn và khảo của. Trò khảo của này là một "sở trường" của Tướng Mai Hữu Xuân. Sự tiết lộ này đã giúp giải thích tại sao hai ông bị trói tay ra phía sau lưng, trên mặt ông Diệm có nhiều vết bầm và trên người ông Nhu có nhiều lát dao đâm. Nguyễn Văn Nhung chỉ leo lên xe M113 trong một thời gian ngắn, không thể gây ra tất cả những thứ đó được.

Sau khi thi hành xong lệnh của chủ và lãnh tiền công, "bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" cấu xé nhau về chức quyền và tiền bạc, đưa tới mất mất chủ quyền quốc gia, rồi đến mất nước.

Bây giờ ở nơi các địa tầng "naraca", Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, NguyễnVăn Quan, Nguyễn Văn Nhung... đang cùng với hai "ông thầy" Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẫm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson.

Nghe nói trong những năm cuối cùng, Mai Hữu Xuân đã phát điên, thỉnh thoảng quỳ quay vào tường, chấp tay van lạy:
"Xin cụ tha cho con!".

nguồn : http://ngothelinh.tripod.com/TT_NgoD...nhuthenao.html
Reply With Quote
  #3  
Alex Alex is offline
Thành Viên
 
Join Date: Mar 2009
Posts: 37
Default

Old Ngày 30-10-2009, giờ 01:15
Kính dâng Hương Linh Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng 2 bào đệ là Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn.
Chuyện giết anh em Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong xe thiết vận xa M.113 là Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa bắn trước rồi Đại úy Nhung sau đó.
Đây là trong tập Hồi Ký của Tướng Trần Văn Đôn nói về chuyện này.
Dương Hiếu Nghĩa hiện đang đi tu trong một ngôi chùa ở California.
Tội giết Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đưa đất nước mất vào tay bọn côn đồ Hồ chó Minh.

Trân trọng.
Alex
Reply With Quote
  #4  
Sydney Sydney is offline
Thành Viên
 
Join Date: Jun 2008
Posts: 823
Default

Old Ngày 30-10-2009, giờ 13:58


Kính dâng hương linh Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn


Ông Ngô Đình Nhu ngủ trong giấc mộng hòa bình.


Nếu cổ sử Trung Hoa từng tự hào về Quân Sư Khổng Minh Gia Cát Lượng, thì lịch sử Cận đại Việt Nam cũng nên hãnh diện có một: Ngô Đình Nhu.

Nếu thế giới vỗ tay khi Tổng Thống Obama được giải Nobel Hòa Bình, thì người Việt cũng nên khâm phục ý tưởng hòa bình của Cố vấn Ngô Đình Nhu.

Đúng vậy, nếu sưu tra và tham khảo hết các sử liệu về nền Đệ Nhất Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm thành lập và lãnh đạo, thì vai trò của Cố vấn Ngô Đình Nhu đã đóng góp một phần không nhỏ trong sự nghiệp Chống Cộng để bảo vệ Miền Nam Việt Nam. Ngoài Bộ thuyết Cần Lao Nhân Vị, và sự thành công của Quốc sách Ấp Chiến Lược do ông soạn thảo đã tạo sự điêu đứng cho đối phương, thì có một sự kiện mà mãi cho đến ngày nay lịch sử vẫn chưa làm sáng tỏ được. Đó là việc ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đích thân đi gặp Phạm Hùng, vị Đại diện của Hồ Chí Minh để tìm một thỏa hiệp cho cả hai phe.

Rất tiếc và rất tiếc! Đã gần 50 năm trôi qua nhưng tư liệu và chứng cứ về sự kiện này vẫn không được khám phá gì nhiều hơn! Ngoài một vài chi tiết mang tính trùng lặp được viết đi rồi ghi lại qua hàng ngàn cuốn sách viết về cuộc binh biến 1-11-1963. Ngay cả Luận án viết chưa xong của cố cựu Trung Tá Nguyễn Văn Châu, từng là Quân ủy của Đảng Cần Lao có một tựa đề khá gây chú ý là: NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NỖ LỰC HÒA BÌNH DANG DỞ, do Dịch giả Nguyễn Vi Khanh thực hiện vẫn không soi rọi thêm một bằng chứng nào khác, về cuộc chuyện trò bí mật của hai đại diện thuộc hai phe Nam-Bắc tại khu rừng Tánh Linh-Bình Tuy, dưới dạng ông Cố vấn Ngô Đình Nhu giả vờ đóng vai người đi Săn Cọp để gặp gỡ ủy viên Phạm Hùng.

- Vậy, Phía Cộng hòa là ông Ngô Đình Nhu, còn phía Việt cộng là ông Phạm Hùng. Họ đã nói gì?

- Mức độ tiến triển của cuộc thương thuyết sẽ ra sao?

- Sự thỏa hiệp này có lợi cho Cộng Hòa hay Cộng Sản?

- Ai hứa hẹn với ai điều gì?

- Tại sao ông Ngô Đình Nhu phải đi nước cờ này? Và phải chăng nước cờ này mang tính tháu cáy mà ông Nhu muốn người Mỹ thay đổi lập trường với Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa?

- Hay, nước cờ này là hai ông Diệm- Nhu muốn bán đứng Miền Nam cho Việt cộng như bao người đã kết tội?

- Hoặc, nếu thỏa hiệp hòa bình này thành công thì Việt Nam sẽ như thế nào? Cục diện chính trị có rơi vào tình trạng bi đát như hiện nay không?

Hàng ngàn câu hỏi đã đặt ra, và đã có hàng vạn lập luận trả lời đã in trên mặt giấy. Nhưng tất cả đều bị bịt kín sau tấm màn bí mật, và có thể sự bí mật này sẽ bị chôn vùi dưới lớp bụi thời gian. Phía người bênh vực cho hai ông Diệm- Nhu thì khá khiêm tốn khi bàn về sự kiện này. Nhưng phía người chống thì quyết một lời là tố cáo, và lập luận tố cáo được đưa ra nhưng không mấy có sự khả tính và thuyết phục, nếu không muốn nói là ác cảm tính. Trong khi các yếu tố về lịch sử như ngoại giao- quân sự- pháp lý- tình tự dân tộc- ý chí lãnh đạo của mỗi bên, kể cả của Hoa Kỳ và Đồng Minh, cũng như Nga Sô- Trung Cộng và khối Xã hội chủ nghĩa chưa được kết hợp để tạo nên một lập luận vững vàng.

Vậy, làm sao để soi rõ sự kiện này khi hai nhân vật chính cũng đã đột ngột bị bức tử như chính kế hoạch hòa bình bị dang dở. Câu trả lời thật quá khó như hỏi ông Trời có bao nhiêu tuổi và trái Đất có tự bao giờ! Nhưng, đây chính là điểm hấp dẫn nhất, thu hút nhất để cho ai sau này muốn làm nên một Luận án Hòa Bình và Chiến Tranh của Việt Nam và Đông Dương. Bởi rằng, Nếu đem so với tất cả danh nhân từng nhận giải Nobel Hòa Bình trên thế giới, thì kế hoạch hòa bình của Cố vấn Ngô Đình Nhu thật sự mang một đặc tính hết sức táo bạo và độc đáo, hay nói cách khác là độc nhất vô nhị. Vì, cuộc thương thuyết không hề xảy ra trong một phòng xa hoa với tiếng khui nổ giòn của những chai Rượu, mà sự thỏa hiệp được âm thầm môi giới của 2 vị Đại sứ quán Pháp và Ấn Độ, và điều gì còn lại xảy ra, tất cả có chỉ hai người trong cuộc mới tận tường cốt lỏi..

Để tỏ lòng kính trọng đối với một chính trị gia xuất sắc có công chống cộng. Xin gác lại mọi lời bình cũng như phân tích về sự thành công hay thất bại của kế hoạch hòa bình này, hơn nữa khi sự kiện chưa trở thành lịch sử thì không nên vội vàng phán xét. Do đó, bài viết này chỉ xin đưa ra một số lập luận có cơ sở để xác định rằng. Kế hoạch hòa bình của ông Ngô Đình Nhu rất hữu lý và có khả năng sẽ thành hữu lực, nếu ông không bị thảm sát.! Vì rằng, một số câu hỏi dưới đây xin được đặt ra cho những ai muốn tham luận về sự kiện này, và tự câu trả lời theo cảm nhận của mỗi người sẽ là yếu tố để xác quyết cho vấn đề.

a) Ai quả quyết được rằng Chính phủ Hoa Kỳ mãi mãi tiếp sức viện trợ cho Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Dù là một hậu Chính phủ được Dân cử sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm ( về hưu hay bị thảm sát), để tiếp tục Chống Cộng.

b) Ai nhất quyết chắc chắn rằng Trung Cộng và Nga Sô cùng khối Cộng sản vĩnh viễn Vô Điều Kiện yểm trợ mọi mặt cho Hà Nội để duy trì cuộc chiến.

c) Nếu cả hai miền Nam-Bắc đều được hai Khối cường quốc ủng hộ, thì chiến tranh kéo dài đến bao lâu, và dân tộc Việt Nam được gì? Mất gì?

d) Miền Nam có chiến thắng cuộc chiến này không? Hay, vĩnh viễn nằm trong thế phòng thủ và bị động, hay nói cách khác là suốt đời bị Mỹ bắt giẫm chân tại chỗ, vì lịch sử đã chứng minh chưa thấy VNCH vượt Vỹ tuyến 17 để đánh địch quân, nghĩa là luôn luôn tôn trọng Hiệp Định 1954.

e) Nếu Chính phủ VNCH rơi vào tình trạng như điểm ( d ) nói trên, và ngay cả thời Đệ Nhị Cộng Hòa cũng vậy ( vì lịch sử đã chứng minh). Trong khi tham vọng cưỡng chiếm Miền Nam của Bắc Việt không từ bỏ thì kết quả cuộc chiến như thế nào?

f) Tất cả lịch sử đã chứng minh. Phía Việt Cộng chiến thắng, nhưng được gì? Và Tổ Quốc Việt Nam hiện nay đã mất gì? Dân tộc Việt Nam trong quá khứ và tương lai đã và sẽ mất gì, cần gì?

g) Hòa bình vào giữa thập niên 1960 hay 1975 giống và khác gì nhau cho người còn sống hôm nay? Hay, được và mất gì cho mấy triệu con dân Việt nằm xuống hôm qua???

Rất nhiều câu hỏi cần đặt ra, nhưng chỉ nêu lên một số điểm căn bản để suy luận. Và nhằm khai thông, giải tỏa cho cuộc gặp gỡ bí mật, hay nói cách khác là một kế hoạch hòa bình đã bị chết non. Bằng một câu hỏi ngắn gọn rằng:

Phải chăng ông Ngô Đình Nhu đã nhìn thấu hết cục diện chính trị của cả 2 miền Nam- Bắc, và biết trước kết quả của cuộc chiến???

Để rồi từ đó ông đi đến một quyết định táo bạo nhưng có tính toán, nhằm muốn vãn hồi cuộc chiến trong sự có lợi hỗ tương cho hai phe. Đồng thời phía ông Hồ Chí Minh cũng cùng chung một suy nghĩ, cho một Việt Nam được tự quyết trên phương diện Chủ Quyền Quốc Gia.

Phía Bắc Việt, chưa từng tiết lộ một chi tiết nào về vấn đề này, hay nói cách khác họ không dại gì nói ra để mất đi cái oai của người chiến thắng!

Phía Nam Việt, ai là người cực lực phản đối vì cho rằng ông Nhu chỉ làm ảo để tháu cáy người Mỹ. Chứ, ông Nhu không thể nào tính xa như vậy! Nếu có suy nghĩ như thế thì xin hãy tìm đọc phần nhận định của chính ông Nhu trong: CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM. Đó chính là cơ sở vững chắc nhất, là yếu tố quan trọng nhất để xác định một phần nào, dù là nhỏ nhất, để thấy rằng kế hoạch hòa bình mà Cố vấn Ngô Đình Nhu đang thực hiện dang dở là không mơ hồ và ảo tưởng. Trong cuốn sách giá trị đó. Ông Nhu từng nhấn mạnh rằng. Hà Nội thắng thì Chủ quyền của Việt Nam sẽ mất vào tay Trung Cộng. Xin thêm một lần được lặp lại rằng . Hơn ai hết, trong nội các của Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa thì ông Ngô Đình Nhu là người duy nhất, và duy nhất là người nắm vững hết tin tức Tình báo chiến lược từ hạ tầng đến thượng tầng cơ sở, để thấu triệt hiểu biết hết tình hình ngoại chính và nội bộ của đối thủ là Hồ Chí Minh, đơn cử một ví dụ mà toàn dân Việt Nam, ngay cả những đảng viên cấp cao trong Quốc Hội hay Bộ chính trị cộng sản Việt Nam thời đó, mấy ai biết được Công hàm bán Biển Đảo năm 1958 cho Trung Cộng do Phạm Văn Đồng ký tên, trong sự đồng ý của Hồ Chí Minh đang tối cao đương quyền lúc đó. Nhưng, biết đâu tin tức bí mật này đã lọt vào tai ông Cố vấn Ngô Đình Nhu! Và, ai đoán ra được tư tưởng của Hồ Chí Minh khi đó??? Hai câu hỏi nhưng cũng là một vấn đề mà ngay cả Gia Cát Lương, Trương Lương hay Phạm Lãi nổi tiếng bên Tàu đội mồ lên sống lại, cũng phải trả lời: Có trời mới biết.

Sở dĩ, phải đặt ra vấn đề trên. Vì toàn bộ tiểu tiết đến đại tiết của sự kiện đều bao trùm lên một sự bí mật, nên có quyền đặt ra giả định để tạo thành lập luận, ngõ hầu giúp các sử gia mai hậu anh minh cao kiến hơn, để thẩm định một góc khuất lịch sử của nước nhà.

Hôm nay đây, đếm trên đầu ngón tay, sau ngày Cố vấn Ngô Đình Nhu mất là 46 năm. Hiện trạng chính trị của quốc gia Việt Nam đang như thế nào? Câu hỏi này không chỉ dành cho kẻ thắng người thua, không đơn phương dành cho người bênh hay chống ông. Nhưng tất cả đã thấy rõ. Biên giới phía Bắc, hay Tây Nguyên là nơi mà ông Nhu cho là tử huyệt đã về tay Trung Cộng. Rồi Hoàng Sa đang phát giấy bạc Trung Cộng cho dân Tàu xài, còn Trường Sa thì Việt Cộng vẫn rêu rao là có bộ đội ta đang đóng. Phải, bộ đội đang đóng trên một vài gầm Đá to không đủ để cho mấy con Cá Mập cà Lưng khi ngứa ngáy mình.

Chiến tranh hay Chiến thắng ai nuôi mộng, được gì???

Ai nhận giải Nobel Hòa Bình? Và vì sao người ta phải trao giải này? Có phải người ta hoan hô vì một phần nhân loại không còn chảy máu. Chỉ cách đây vài ngày, người xem truyền hình trên toàn thế giới, đều phải thút thít hay cắn môi trước cảnh một Mẹ già 100 tuổi ngồi trên xe lăn từ Bắc Hàn đến nhà Khách Đoàn Tụ, rồi khán giả phải thắt tim khi khi 2 người con tuổi đã 75 tuổi từ Nam Hàn đến, họ cung kính quỳ lạy người Mẹ kính yêu sau bao năm xa cách. Ranh giới giữa chiến tranh hay biên giới của hòa bình thật gần nhưng thật xa nhiều quá! Ai mạnh dạn nói rằng tôi muốn đất nước tôi như thế! Có..có thể có vài người nhưng dễ dầu gì nói ra mà không nghẹn tiếng. Rất có thể! Có thể thôi, là 46 năm trước. Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu cũng đã muốn nhen nhóm lên ngọn lửa Hòa Bình dưới hai làn bom đạn. Chắc chắn, ý tưởng của ông không mang tham vọng cá nhân. Bởi, bộ óc trăm năm như ông không tìm ra được một lối thoát cho chính mình tại Pháp-Đài Loan hay Ai Cập? Có lẽ, Cái giá của dân tộc, của tổ quốc cao hơn mạng sống của chính mình!

Ôi. Quê hương ơi! Bao giờ người cộng sản Việt Nam nghĩ được như thế!

Vĩnh biệt một Chính trị gia ngàn năm khó kiếm với tấm lòng kính phục, khâm phục của một kẻ sinh ra sau khi Người đã ngủ với giấc mộng hòa bình, 1 năm.

(Xin Kính trọng gởi bài viết này đến Bà quả phụ Ngô Đình Nhu, khuê danh Trần Lệ Xuân)

Nguyễn Duy Thành


* Source: http://www.vietvungvinh.com/Portal.a...0091029_02.htm
Reply With Quote
  #5  
Alex Alex is offline
Thành Viên
 
Join Date: Mar 2009
Posts: 37
Default

Old Ngày 30-10-2009, giờ 19:58
Yêu cầu Tướng Khánh trả lời trước lịch sử
VietCatholic News (14 Apr 2009 23:51)
Hiện nay Đại Tướng Nguyễn Khánh, một nhân chứng lịch sử còn lại, vẫn đang khoẻ mạnh và tinh thần minh mẫn, nên chúng tôi viết bài này với ước mong Đại Tướng trả lời trước công luận về một quyết định lịch sử rất quan trọng và chính quyết định này đã đưa Miền Nam vào những cơn khủng hoảng liên tục, và sau đó chấm dứt sự nghiệp của Tướng Khánh, đó là:

Ai đã ra lệnh cho Bộ Tư Pháp soạn soạn thảo và ban hành một đạo luật man rợ, bất chấp các nguyên tắc căn bản của luật pháp, để giết ông Ngô Đình Cẩn và một số người liên hệ đến chế độ Ngô Đình Diệm?

Trước đây, chúng tôi đã có lần hỏi Đại Tướng ai đã ra lệnh nói trên, Đại Tướng trả lời rằng chuyện đó do bên Bộ Tư Pháp làm, ông không hay biết gì hết! Tôi làm trong chính quyền lâu năm, tôi biết rõ không bao giờ một cơ quan cấp bộ tự ý làm một chuyện quan trọng như vậy mà không có lệnh của cấp lãnh đạo quốc gia.

DIỄN BIẾN LỊCH SỬ

Sau cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, ngày 31.1.1964, Tướng Nguyễn Khánh lên làm Chủ Tịch Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội và theo chỉ thị của CIA, loại tất cả các tướng lãnh thân Pháp đã được Mỹ dùng làm công cụ đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Cuộc “chỉnh lý” nói trên, thường được gọi là “Pentagon Coup”, do Tướng Khiêm, một nhân viên CIA (agent) thứ thiệt, chủ động dưới sự chỉ đạo của CIA, còn Tướng Khánh chỉ “ăn có”. Do đó, tài liệu để lại cho thấy, theo sự chỉ đạo của Toà Đại Sứ Mỹ, Tướng Khánh sẽ làm Quốc Trưởng bù nhìn, còn Tướng Trần Khiêm làm Thủ Tướng nắm thực quyền. Nhưng Tướng Khánh không muốn làm Quốc Trưởng bù nhìn, nên ông quyết định đẩy Tướng Khiêm ra ngoại quốc rồi ông vừa nắm chức Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, vừa nắm chức Thủ Tướng.

Ngày 7.2.1964, Tướng Khánh ban hành Hiến Ước Lâm Thời số 2, cử Tướng Dương Văn Minh lên làm Quốc Trưởng bù nhìn và Tướng Khánh làm Thủ Tướng. Ngày 8.2.1964 Tướng Khánh công bố thành phần chính phủ.

Theo quy chế lúc đó, tất cả tổ chức chính phủ, kể cả quốc trưởng, đều nằm dưới quyền của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Tướng Khánh làm Chủ Tịch. Do đó, người lãnh đạo tối cao của Miền Nam lúc đó, sau Đại Sứ Mỹ là Tướng Nguyễn Khánh. Vậy phải có lệnh của Tướng Khánh, Bộ Tư Pháp mới soạn ra đạo luật nói trên.

TIẾN TRÌNH CỦA LUẬT MAN RỢ

Trước khi nói chuyện tiếp với Tướng Nguyễn Khánh, chúng tôi xin trình bày qua tiến trình hình thành Sắc Luật số Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 thiết lập Tòa Án Cách Mạng và nội dung của sắc luật này.

Sau khi đảo chánh thành công, Tướng Dương Văn Minh không quan tâm gì đến việc giải quyết những vấn đề của quốc gia mà chỉ lo vơ vét. Sau khi “chỉnh lý”, không biết tự mình hay theo lệnh của ai, Tướng Nguyễn Khánh đã cho xúc tiến một cách khẩn cấp thủ tục thanh toán ông Ngô Đình Cẩn và một số nhân vật liên hệ đến chế độ cũ chưa thể giết được trong cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963. Nhưng việc giết ông Cẩn và những người liên hệ gặp khó khăn, vì các luật pháp hiện hành lúc đó không cho phép làm như vậy. Do đó, công việc trước tiên là phải hình thành một đạo luật mới, quy định một cách nào đó để có thể đưa ông Cẩn và những người liên hệ ra xét xử và tuyên án tử hình. Đây là một công việc rất phức tạp.

1.- Đưa Giám Đốc Nha Quân Pháp về làm Bộ Trưởng Tư Pháp

Công việc trước tiên là đưa Đại Tá Nguyễn Văn Mầu, Giám Đốc Nha Quân Pháp, lên làm Bộ Trưởng Tư Pháp.

Tại Việt Nam, Bộ Trưởng Tư Pháp thường được chọn trong các thẩm phán cao cấp hay các luật sư lão thành vì hai lý do: Lý do thứ nhất là người ở chức vụ này phải được mọi người kính nể, nhất là giới luật gia. Lý do thứ hai là người đó phải rất am tường về luật pháp và ngành tư pháp. Trường hợp của Đại Tá Nguyễn Văn Mầu là một biệt lệ. Ông ta chỉ chuyên về quân pháp nên không thể nắm vững tình trạng luật pháp rất phức tạp của Việt Nam thời đó được. Cấp bậc của ông ta lại thấp nên bị coi thường. Nhưng Tướng Khánh đã quyết định chọn ông ta vì chỉ có ông ta mới chịu thi hành lệnh của Tướng Khánh, dù trái với các nguyên tắc căn bản của luật pháp. Một thẩm phán cao cấp hay một luật sư lão thành không bao giờ chịu làm như vậy.

2.- Vượt lên trên nguyên tắc căn bản của luật pháp

Theo bộ Hoàng Việt Hình Luật áp dụng tại Trung Phần hay Hình Luật Canh Cải áp dụng tại Nam Phần, nếu truy tố “dư đảng Cần Lao” về các tội như bắt người trái phép, đả thương, tống tiền, kinh tài bất hợp pháp... thì không thể tuyên án tử hình được. Vì vậy, Bộ Tư Pháp được lệnh phải soạn thảo và cho ban hành một văn kiện như thế nào để có thể xử tử hình ông Cẩn và những người liên hệ. Một nhóm luật gia đã được bí mật giao cho phụ trách công tác này.

Dự thảo luật đã đưa ra một số tội phạm mà họ cho rằng ông Ngô Đình Cẩn và “dư đảng Cần Lao” đã vi phạm và ấn định những tội này có thể bị tử hình. Một sự quy định như thế dĩ nhiên là hoàn toàn trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật (principle of non-retroactive of criminal law), tức hình luật không áp dụng cho những trường hợp xẩy ra trước ngày luật ban hành. Đây là một một nguyên tắc căn bản của hình luật được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận và áp dụng, kể cả Hoàng Việt Hình Luật và Hình Luật Canh Cải của Việt Nam thời bấy giờ. Nguyên tắc này cũng đã được ghi vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị.

Điều 11, đoạn 2, của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền quy định như sau:

“Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành, mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.”

Điều 15 của Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị quy định:

“Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay quốc tế áp dụng trong thời gian khi tội phạm xẩy ra. Cũng sẽ không bị tuyên một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian sự phạm pháp xẩy ra. Tuy nhiên, người vi phạm được hưởng sự khoan hồng hơn nếu luật mới ban hành sau ngày phạm pháp ấn định hình phạt nhẹ hơn.”

Mặc dầu có nhiều tranh luận, dự thảo Sắc Luật số 4/64 thiết lập Tòa Án Cách Mạng cũng đã được Tướng Nguyễn Khánh ký và ban hành ngày 28.2.1964. Sắc Luật này đã đưa ra những quy định hoàn toàn trái với nguyên tắc căn bản của hình luật như đã nói trên.

Điều 1 của Sắc Luật quy định:

“Nay thiết lập một toà án Cách mạng có thẩm quyền xét xử trên toàn quốc những tội ác gây ra trong khoảng thời gian từ 26 tháng mười năm 1955 đến 1 tháng mười một năm 1963 bởi những bọn mật vụ, đại kinh tài, viên chức chính quyền cao cấp cùng nhân vật quan trọng dưới thời Ngô Đình Diệm.”

Điều 2 quy định Toà Án Cách Mạng sẽ mở phiên xử đầu tiên trong tháng ba năm 1964, và hoạt động trong thời gian 3 tháng.

Điều 3 quy định 12 tội sẽ bị truy tố trước Toà Án Cách Mạng: gian nhân hiệp đảng; cố sát với trường hợp gia trọng; giết người bằng thuốc độc; tra tấn và phạm trọng tội; cố ý đả thương với mọi trường hợp gia trọng; hiếp dâm với mọi trường hợp gia trọng; bắt giam trái phép; cướp với trường hợp gia trọng; sách thủ tiền tài; đốt hủy sổ bộ, chứng thư, chứng khoán, thương phiếu; hối lộ và hối mại quyền thế, và lũng đoạn kinh tế quốc gia.

Điều 4 định nghĩa lại các yếu tố tội phạm, phần lớn khác với định nghĩa của các điều luật đã áp dụng trước đó:

(1) Gian dâm hiệp đảng: những tổ chức khủng bố bí mật hay công khai;

(2) Đầu độc giết người: tội bắt giam người trong hầm có hơi độc, hay có chất độc hay thiếu không khí, để gây thiệt mạng;

(3) Mưu sát: Tội giết người đối lập về chính trị, việc tra tấn cho đến chết;

(4) Bắt giam trái phép: việc lưu đày một người mà không có án toà và ngoại trừ trường hợp dự liệu bởi Dụ số 6 ngày 11 tháng giêng năm 1956;

(5) Cướp: các việc tịch thu bất hợp pháp;

(6) Lũng đoạn kinh tế quốc gia: việc mang đi hay cho mang ra khỏi xứ, bất cứ bằng cách nào, các giá khoán động sản, giấy bạc Việt Nam, vàng, bạc, ngoại tệ, trái khoán, và bằng khoán; tổ chức kinh tài bất hợp pháp; sang đoạt công nho.

Điều 5 cấm toà án cách mạng không được quyền giảm khinh, cũng như không được phạt án treo.

Điều 15 quy định rằng Toà Án Cách Mạng tuyên án liền sau phiên họp nghị án, không đình hoản. Những án khuyết tịch coi như đương tịch.

Điều 16 cấm các bị cáo không được kháng cáo hoặc thượng tố.

Hầu hết những quy định trên là những quy định mới, không được dự liệu trong các luật lệ đã có từ trước và đã được đem áp dụng để truy tố và xét xử ông Ngô Đình Cẩn và “dư đảng Cần Lao” nên hoàn toàn trái với nguyên tắc bất hồi tố của hình luật. Điều này cho thấy những người đứng đàng sau vụ án đã có quyết tâm giết ông Ngô Đình Cẩn và một số người liên hệ đến chế độ cũ bằng mọi giá.

Sau vụ này, trong các sách giáo khoa ở trường luật, các giáo sư thường nêu lên Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 như một văn kiện điển hình vi phạm nguyên tắc bất hồi tố của hình luật đã được đưa ra thi hành và các luật gia đã coi đó là một thứ luật man rợ, một vết dơ trong nền tư pháp Việt Nam Cộng Hoà. Ngay trong vụ án Saddam Hussein được Toà Án Đặc Biệt Iraq (Iraqi Special Tribunal) xét xử, trong bản án phúc thẩm ngày 26.12.2006, Toà Phúc Thẩm Iraq xác nhận nguyên tắc bất hồi tố của hình luật vẫn được tôn trọng. Nói cách khác, luật pháp của Iraq áp dụng cho tập đoàn Saddam Hussein còn văn minh và công bằng hơn luật pháp do Tướng Nguyễn Khánh đưa ra lúc đó.

Chúng tôi đã phỏng vấn nhiều thẩm phán và luật sư lão thành thời đó xem nhóm luật gia nào đã được giao cho soạn thảo Sắc Luật số 4/64 ngày 28.2.1964 và ai đã chỉ thị cho họ làm như vậy, nhưng không một tin tức nào được tiết lộ.

Tiếp theo, ngày 28.2.1964, Tướng Khánh ký Sắc Lệnh số 120-TP cử các tay chân bộ hạ của ông, sẵn sàng thi hành lệnh ông, vào thành phần xử án để thi hành quyết định của mình, đó là Đại Tá Trần Văn Chương, Đại Tá Nguyễn Văn Chuân, Đại Tá Đặng Văn Quang, Trung Tá Dương Hiếu Nghĩa (ghi lầm là Nguyễn Văn Nghĩa), v.v.

LỆNH GIẾT PHÁT XUẤT TỪ ĐÂU?

Trong cuốn “Việt Nam nhân chứng”, Tướng Trần Văn Đôn cho biết như sau:

“Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng đã quyết định đưa ông Cẩn đi ra ngoại quốc rồi. Ông Cẩn lại không có tội gì rõ rệt đến nổi sinh mạng ông bị đe doạ. Hai anh của ông ta chết, máu đổ thêm nữa có ích lợi gì?...” (tr. 248).

Thế thì tại sao có lệnh phải làm một đạo luật man rợ để giết ông Cẩn?

Một số người cho rằng áp lực đòi nợ máu của nhóm Phật Giáo đấu tranh, nhất là hai Thượng Tọa Thiện Minh và Trí Quang, là động lực chính khiến Tướng Khánh phải ra tay, vì Tướng Khánh vốn bị nhóm này tố cáo là “Cần Lao tái xuất giang hồ” , nên phải có hành động như thế để chứng minh ông ta không phải là Cần Lao.

Tuy nhiên, nhiều người tin rằng sự thúc đẩy hay khuyến cáo của một số viên chức Hoa Kỳ, nhất là Đại Sứ Cabot Lodge, là lý do chính khiến Tướng Khánh phải ra tay: Nếu ông Cẩn còn sống, các nhóm ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm có thể làm đảo chánh và đưa ông Cẩn lên.

Trong công điện khẩn mang số 930 gởi cho Bộ Ngoại Giao ngày 5.11.1963 (sau khi ông Diệm vừa mới bị giết), ông Lodge nói ông Cẩn sẽ “được xét xử theo luật pháp” và “chính phủ Hoa Kỳ có thể trở thành người biện hộ cho tội ác, nếu toan tính làm việc xét xử ở đây bị trở ngại vì ông Cẩn là khuôn mặt đáng phải chịu sự oán ghét mà ông ta đang phải nhận” . Điều này cho thấy ông Lodge đã quyết định giết ông Cẩn. Nhiều người tin rằng ông Lodge đã mượn tay Tướng Khánh để thực hiện âm mưu của mình.

Thời đó, không có lệnh của Toà Đại Sứ Mỹ, Tướng Khánh không bao giờ dám đưa ra một quyết định quan trọng như vậy, dù bị áp lực của nhóm Phật Giáo đấu tranh đòi nợ máu. Trong công điện gởi về Washington ngày 30.4.1964, Đại Sứ Lodge kể lại rằng Tướng Khánh đã nói với ông:

“Chúng tôi người Việt Nam muốn người Mỹ chịu trách nhiệm với chúng tôi chứ không phải chỉ là những cố vấn”.

(We Vietnamese want the Americans to be responsible with us and not merely be advisers).

GIẤU ĐẦU LÒI ĐUÔI

Năm 2005, khi bị chất vấn về vụ giết ông Cẩn, Tướng Nguyễn Khánh nói rằng quyền tha hay giết ông Cẩn là quyền của Tướng Dương Văn Minh, vì lúc đó Tướng Minh là Quốc Trưởng. Riêng ông đã giúp ông Cẩn bằng cách đưa Đại Tá Đặng Văn Quang, con đỡ đầu của ông Cẩn, vào làm phụ thẩm Quân Nhân tại Tòa Án Cách Mạng xét xử ông Cẩn. Nhưng Tướng Khánh đã nói láo.

Đại Tá Đặng Văn Quang sinh tại Ba Xuyên là người công giáo đạo gốc, đi lính Pháp với cấp cập hạ sĩ từ 1947 – 1949, sau đó đi học khoá 1 sĩ quan Đập Đá ở Huế cùng với Nguyễn Văn Thiệu.

Trong thời gian ở Huế, Đặng Văn Quang còn là Trung Tá, có người tình là cô Đỗ Thị Năm, người Nam, không có đạo. Cô Năm đã xin theo đạo để hợp thức hoá tình trạng hôn nhân theo luật đạo Công Giáo. Trung Tá Quang đã nhờ bà Ngô Đình Thị Hiệp, em ông Diệm, vợ ông Tạ Văn Ấm và mẹ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, đỡ đầu cho cô Năm khi chịu phép rửa tội và lấy tên thánh là Elisabeth, có lẽ để được ông Cẩn tin cậy và giúp đỡ! Như vậy không hề có chuyện ông Cẩn đỡ đầu cho Đại Tá Đặng Văn Quang như Đại Tướng Khánh đã nói. Ông Cẩn cũng không bao giờ đỡ đầu rửa tội cho bất cứ ai.

Về chuyện đổ tội cho Tướng Dương Văn Minh, chúng tôi đã nói với Tướng Khánh rằng lúc đó Tướng Minh chỉ là quốc trưởng bù nhìn, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng do Tướng Khánh làm Chủ Tịch mới có quyền đưa ra quyết định tối hậu. Nhưng ông vẫn đổ tội cho Tướng Minh.

Đại Tướng Khánh có biết ông Cẩn đã nhìn các sĩ quan được Đại Tướng cử làm phụ thẩm quân nhân tại Toà Án Cách Mạnh như thế nào không? Luật Sư Võ Văn Quan người biện hộ cho ông Cẩn, cho biết, khi nhìn mấy tên phụ thẩm quân nhân ngồi xét xử, ông Cẩn đã nói với Luật sư Quan:

“Luật sư biết không, lúc mấy tên đó tới lui tại nhà tôi, khúm núm xưng “con”, xin xỏ, cầu cạnh. Bây giờ bọn nó tiếp tay để ngồi phiên xử này xử tôi, mặc dầu họ có thể từ chối. Đúng là một lũ phản phúc...”

Luật sư quan cho biết thêm, lúc ở phiên toà, ông Cẩn ngồi dựa vào ghế, nhìn thẳng vào các phụ thầm quân nhân. Một vài phụ thẩm quân nhân, khi nhìn xuống, chạm phải mắt ông Cẩn, liền quay về hướng khác.

Còn Tướng Nguyễn Khánh thì sao? Đại Úy Nguyễn Văn Minh, người phụ trách về an ninh của ông Cẩn lúc đó có kể lại năm 1956, sau khi nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn I Bộ Binh ở Huế, Tướng Khánh đến xin được vào chào ông Cẩn, nhưng không hiểu tại sao ông Cẩn không tiếp. Đại Tá Khánh liền áp dụng chiến thuật “lỳ”. Từ hôm sau, mỗi buổi sáng, đầu giờ làm việc, Tướng Khánh đều mặc quân phục chỉnh tề, tự mình lái xe đến đậu ngay trước nhà ông Cẩn. Sau khi yêu cầu nhân viên gác cổng vào trình xin cho ông được gặp, ông trở ra ngồi trên xe đợi hàng tiếng đồng hồ. Không được gặp, hôm sau Tướng Khánh lại lái xe đến và làm như thế, liên tiếp trong ba bốn sáng. Cuối cùng, ông đã được ông Cẩn tiếp.

Luật Sư Võ Văn Quan Luật sư Quan đã kết luận bài biện hộ cho ông Cẩn như sau:

“Trong cuộc cách mạng năm 1789 của Pháp, quốc hội gọi là Convention National, bầu trong thời kỳ La Terreur (Khủng Bố) gồm đa số là những người do tên độc tài khát máu Robespierre dùng áp lực để đưa vào. Trước khi đem vua Louis XVI ra xét xử tại Quốc Hội, Robespierre đã tuyên bố là phải cho án tử hình. Trong phiên tòa đặc biệt đó, nhiều người của Convention National đã cật vấn hằn học, mạt sát thậm tệ vua Louis XVI, cho biết trước rằng họ sẽ bỏ phiếu tuyên án tử hình. Khi đứng lên biện hộ cho vua Louis XVI, Luật sư Sège đã can trường nói thẳng với họ: “Je viens ici chercher des juges, mais je ne trouve que des bourreaux.” (Tôi đến đây tìm những vị thẩm phán quan, nhưng tôi chỉ gặp những tên đao phủ thủ).

Trong lịch sử tư pháp Việt Nam, chúng tôi chưa thấy có luật sư nào dám xúc phạm các quan tòa như vậy. Nhưng vì những điều Luật Sư Quan nói là sự thật nên các “phán quan” chỉ ngồi chịu trận chứ không có phản ứng nào.

Trong vụ án Đặng Sỹ, Đại Tướng Khánh cũng đã quyết định tuyên án tử hình. Nhưng khi bị áp lực của Khối Công Dân Công Giáo, Đại Tướng đã phải thay đổi quyết định của mình.

Sáng 7.6.1964 một cuộc biểu tình lớn với khoảng 100.000 người tham dự đã được tổ chức tại công trường Lam Sơn, trước trụ sở Quốc Hội ở Saigon. Đoàn biểu tình đứng kéo dài trên đường Lê Lợi đến chợ Bến Thành. Trong cuộc biểu tình này người ta thấy có các biểu ngữ: “Lột mặt nạ bọn lợi dụng Cách Mạng để đàn áp Công Giáo”, “Mỵ dân là phải bội Dân Chủ”, “Ủng hộ cuộc đấu tranh của Công Giáo miền Trung” ,... Thỉnh thoảng có một vài biểu ngữ “Cabot Lodge cút đi” được đưa lên rồi hạ xuống.

Trước áp lực của khối Công Giáo, chiều 7.6.1964, Tướng Nguyễn Kháng đã cho Chuẩn Tướng Albert Nguyễn Cao, đại diện cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, đến thông báo cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, Linh mục Trần Tử Nhãn ở Dòng Cứu Thế và gia đình Đặng Sĩ biết Đặng Sỹ sẽ không bị tuyên án tử hình và đừng quan tâm đến bản án tòa sẽ tuyên trong ngày mai. Tòa chỉ tuyên án để thỏa mãn những đòi hỏi của Phật Giáo mà thôi. Trong một thời gian ngắn, khi tình hình lắng dịu, Đặng Sỹ sẽ được trả tự do.

Điều này một lần nữa xác định Tướng Khánh là người nắm quyền quyết định về kết quả của các vụ án do Toà Án Cách Mạng xét xử.

Thiếu Tá Đặng Sỹ cho biết, sau khi tuyên án, ông Chánh Thẩm Lê Văn Thụ đã đi ngang qua chỗ ông đang đứng và nói: “Anh Sỹ, anh đừng buồn chúng tôi. Chắc anh đã hiểu!” Nói cách khác, ông Chánh Thẩm Lê Văn Thụ muốn nói với Thiếu Tá Đặng Sỹ rằng không phải ông muốn tuyên án như vậy, nhưng đó là lệnh. Một chánh thẩm của vụ án mà thanh minh như vậy, đâu còn là công lý nữa?

XIN TRẢ LỜI DỨT KHOÁT

Bây giờ chúng tôi đã thu thập đầy đủ những văn kiện liên quan đến ba vụ án quan trọng của thời đó là vụ án Phan Quan Đông, vụ án Ngô Đình Cẩn và vụ án Đặng Sỹ, trong đó có bản cáo trạng, lời khai của các nhân chứng, các chứng tích được xuất trình, bài cãi của các luật sư và bản án. Chúng tôi cũng đã tìm được các báo cáo của Đại Sứ Cabot Lodge cho Washington trong thời gian vụ án Ngô Đình Cẩn xẩy ra. Chúng tôi mong rằng Đại Tướng sẽ làm sáng tỏ lịch sử.

Đại Tướng Dương Văn Minh đã không thể chối cãi việc ông đã ra lệnh giết Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Đại Tá Lê Quang Tung, Thiếu Tá Lê Quang Triệu, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu.

Các tài sử liệu chúng tôi đã đưa ra nói trên cũng cho thấy Đại Tướng Nguyễn Khánh là người đã quyết định số phận của Phan Quang Đông, Ngô Đình Cẩn và Thiếu Tá Đặng Sỹ. Tướng Khánh cũng không thể chối cãi được. Khi chúng tôi trình bày hồ sơ của từng vụ án, Tướng Khánh sẽ thấy rõ hơn.

Dư luận thắc mắc là trong các vụ án nói trên, Tướng Khánh đã tự ý hành động hay đã làm theo lệnh của Đại Sứ Cabot Lodge hoặc áp lực của nhóm Phật Giáo đòi nợ máu? Nếu Tướng Khánh tự ý làm, xin cho biết lý do.

Chúng tôi muốn tạo cơ hội cho Đại Tướng trả lời một cách thẳng thắn trước lịch sử thay vì chối quanh hay đánh bùn sang ao. Chúng tôi cũng xin nói rõ, với các tài liệu còn lưu lại, Đại Tướng không thể chối quanh hay đánh bùn sang ao được.

Nếu Đại Tướng không thể giải thích được, những sự kiện được chúng tôi dẫn chứng nói trên sẽ đi vào lịch sử và Đại Tướng sẽ phải lãnh nhận sự lên án của các thế hệ tiếp theo như Tướng Dương Văn Minh.

(Cali ngày 12.4.2009)
Lữ Giang
Reply With Quote
  #6  
binhnguyen binhnguyen is offline
Thành Viên
 
Join Date: Oct 2008
Location: Australia
Posts: 133
Default GHI ƠN TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Old Ngày 31-10-2009, giờ 19:15
Trang lịch sử bắt đầu mở ra, tổng thống Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh tụ yêu dân tộc và đất nước, một đấng anh minh liêm khiết, đạo đức. Nguyên hàng tướng tá cái gọi là hội đồng cách mạng chỉ làm lợi cho giặc, cho ngoại xâm và trốn tránh việc mình làm một cách vô liêm sĩ. Ngay cả tướng Khánh nay còn sống ở Mỹ, không dám minh bạch rõ ràng.
Khi đất nước an bình thật sự, dân tộc Việt Nam phải dựng đài tưởng niệm hoặc lăng tẩm để mọi người đến thăm viếng và ghi ơn vị tổng thống một lòng vì nước vì dân như tổng thống Ngô Đình Diệm. Để con cháu mai hậu học hỏi tính liêm khiết, đao đức của cụ.
Không biết dùng từ ngữ gì để nguyền rũa bọn hội đồng cách mạng đã lảm sụp đổ miền Nam và cũng từ đó đã đưa miền Nam vào u tối. Nay dẫn đến cả Việt Nam từ từ vào tay của bọn Tàu Cộng để trở lại kiếp nô lệ ngàn năm muôn thuở. Thật khốn thay!
Reply With Quote
  #7  
ThoChieu ThoChieu is offline
Thành Viên
 
Join Date: Oct 2009
Posts: 20
Default

Old Ngày 01-11-2009, giờ 00:08
Bọn này
Quote:
Originally Posted by vietland View Post

Bây giờ ở nơi các địa tầng "naraca", Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Đỗ Mậu, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Ngọc Lắm, NguyễnVăn Quan, Nguyễn Văn Nhung... đang cùng với hai "ông thầy" Henry Cabot Lodge, Lucien Emile Conein nghiền ngẫm về lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson.
đang cùng Hồ chí Minh tay bắt mặt mừng vì cả bọn có công tiêu hủy tiềm năng khởi phát của dân tộc!
Reply With Quote
  #8  
Andy Nguyen Andy Nguyen is offline
Thành Viên
 
Join Date: Aug 2009
Posts: 34
Default Lữ Giang là Nguyễn Cần là Tú Gàn của tuần báo SaiGon Nhỏ

Old Ngày 01-11-2009, giờ 01:30
Lữ Giang là Nguyễn Cần là Tú Gàn của tuần Báo SaiGon Nhỏ ở California.
Lữ Giang đã từng đâm bị thóc, thọc bị gạo, chuyên đánh phá các nhân vật VNCH và các tổ chức Người Việt Quốc Gia, đổi trắng thay đen như việc Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc, Tú Gàn (Lữ Giang) nói là của Tàu chứ không phải của Việt Nam.
Như vậy bài viết trên của Lữ Giang có giá trị khả tín được bao nhiêu phần trăm ???
Vì Lữ Giang là "chuyên gia" đổi trắng thay đen nên không biết chuyện nào của ông ta viết là thật hay giả. Không lẽ phải tin theo ông ta rằng Ải Nam Quan là của Tàu chứ không phải của Việt Nam. Nếu vậy tại sao môn lịch sử Việt Nam dạy rằng: "Nước Việt Nam trải dài từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mau", mà bất cứ ai là người Việt Nam cũng đều đã học và biết.
Reply With Quote
  #9  
Andy Nguyen Andy Nguyen is offline
Thành Viên
 
Join Date: Aug 2009
Posts: 34
Default Vụ hành quyết ông Ngô Đình Cẩn (1964)

Old Ngày 01-11-2009, giờ 06:31
Nhân kỷ niệm ngày 1/11/1963, và cái chết của ông Ngô Đình Cẩn – em ruột của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu.

1. Đại Tang − Sét Đánh Ngang Tai — Sáng ngày 02/11/1963, một hồi chuông reo lên tại tư thất của ông Ngô Đình Cẩn. Đại uý Minh đón nhận cú điện thoại từ Đà Nẵng một cách khá miễn cưỡng. Từ phía bên kia, tướng Đỗ Cao Trí ngập ngừng, nói rời rạc: “Anh thông báo ngay cho Cậu biết, Sài Gòn vừa báo tin cho tôi hay là Tổng Thống và ông Cố Vấn chánh trị đã tự tử chết rồi. Tôi không hiểu ra sao nữa!?”.

Đại uý Minh thất thần, run run hỏi đi hỏi lại cái tin sét đánh ngang tai đó. Tướng Trí phải xác nhận một lần nữa: “Sài Gòn vừa báo cho tôi hay như vậy!”. Lúc đó, đại úy Minh (quản gia) mới tin đây là một sự thật khá phũ phàng ngoài sức tưởng tượng. Khi nhận được hung tin này, ông Cẩn vẫn không tin và lẩm bẩm: “Làm gì có chuyện động trời như vậy…”. Ngay sau đó, ông chỉ thị cho đại uý Minh liên lạc gấp cha Thuận (Nhà dòng Cứu Thế). Khoảng 1 giờ 30 trưa thì đại úy Minh được lệnh ông Cẩn gọi lại tướng Trí và mời tướng Trí ra gấp Huế để tường trình sự việc.

Khoảng 3 giờ chiều ngày 02 tháng 11, quân "Cách Mạng" do thiếu tá Tuấn đem xe thiết giáp vây nhà ông Ngô Đình Cẩn (Phú Cam, Huế). Tình hình lúc này khá ngột ngạt, ông Cẩn đã mất tinh thần và dao động cực đô. Dù bên cạnh ông vẫn còn một số người thân tín như ông Minh, ông Trọng, ông Độ, và ông Đào Quang Hiển (Giám Đốc Nha Công An Trung Phần).

Sau đó, ông Cẩn lánh mặt trong một nhà dòng Chúa Cứu Thế. Qua ngày hôm sau, tướng Trí gọi điện thoại cho biết ông sẽ ra Huế với tư cách đại diện cho Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng. Lúc đó, ông Cẩn bắt đầu lâm bệnh, mặt mày hốc hác, và thất thần. Ông luôn xúc động trước cái chết của hai ông anh ruột là Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu. Gặp ai, ông cũng thều thào thất thần một cách thểu não “Thôi hết rồi! buồn quá …”.

Tình hình Huế lúc đó bắt đầu sôi động, các cộng sự viên cũ của ông Cẩn lần lượt bỏ chạy qua phe "Cách Mạng". Chiều ngày 3/11, tướng Trí đã vào tới Huế để tiếp kiến ông Cẩn. Trước khi gặp tướng Trí, ông gọi một cộng sự viên tên T. thân tín dặn dò: “Chiếc bao bố ném ở dưới gầm giường... trong đó có 24 kí lô vàng. Chiếc valise gồm một số gia bảo và quý vật... anh lo liệu giữ gìn không thì tụi nó lấy hết. Số bạc mặt tôi vẫn để trong tủ... Anh cứ trao cho thằng Trí giữ hộ ... Cứ trao cho thằng Trí không sao đâu ….”.

Cuối cùng thì tướng Trí đã đến. Ông Cẩn vẫn nằm vắt chân chữ ngũ, và mắt đỏ hoe vì khóc. Tướng Đỗ Cao Trí vẫn niềm nở và trọng vọng ông Cẩn như ngày xưa. Tướng Trí mở lời:

“Kính bẩm Cậu, Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng ủy nhiệm con đến đây để thưa lại với Cậu, Tổng Thống và ông Cố Vấn chết là do tai nạn ngoài ý muốn của các tướng lãnh. Chuyện đã xảy ra như vậy bây giờ biết làm thế nào được. Con cũng xin thưa với cậu, Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng kính mời Cậu tham gia và xin mời cậu đứng trong thành phần của Hội Đồng”. Ông Cẩn yên lặng nhìn mọi người trong phòng. Tướng Trí suy nghĩ một chút rồi lại nói tiếp: “Việc đã xảy ra như vậy thì thế nào, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũng sẽ áp dụng một số biện pháp đối với Cậu như tịch biên tài sản… con nghĩ Cậu nên tính xem thế nào... Cậu có thể đưa cho con giữ hộ”. Trò chuyện một chút, tướng Đỗ Cao Trí đem ra bao bố vàng và valise để lên xe Jeep. Sau đó, đoàn xe của tướng Trí từ từ rời khỏi nhà dòng.

Ít ai biết rằng, ngày 02/11 chính là ngày sinh nhật của ông Ngô Đình Cẩn! Lịch sử thật trớ trêu. Ngày 02/11 lại chính là ngày đại tang của hai bào huynh của ông!

Các Linh Mục Nhà Dòng Cứu Thế đã đến Tòa Lãnh Sự Mỹ ở Huế xin tỵ nạn cho ông Cẩn nhưng không được, vì theo luật quốc tế chỉ có Tòa Đại Sứ mới có quyền cho tỵ nạn mà thôi. Ông Lãnh Sự John Helble xin lệnh Tòa Đại Sứ và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Lúc đầu, Tòa Đại Sứ dè dặt chấp thuận, nhưng sau đó ông Cẩn ra điều kiện đem theo thân mẫu (cụ bà Ngô Đình Khả). Sau đó, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra chỉ thị Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ (ở Huế) không cho ông Cẩn tỵ nạn.

2. Vào Sài Gòn — 10 giờ 45 sáng ngày 05/11, tướng Đỗ Cao Trí được lệnh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đưa ông Cẩn về Sài Gòn cùng với cụ bà Ngô Đình Khả (thân mẫu ông Cẩn). Ông Lãnh Sự Helble kể lại: “Tôi được cho biết là sẽ đưa ông Cẩn ra khỏi nước…?”. Tướng Đỗ Cao Trí, với một người sĩ quan Mỹ và một số sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tháp tùng ông Cẩn và thân mẫu lên máy bay đi vào Sài Gòn. Hạ cánh Tân Sơn Nhứt, thay vì gặp một viên chức tòa Đại Sứ như đã hứa, nhưng nhân viên CIA Lucein Conein đón bắt ông Cẩn ngay và giao cho quân Cách Mạng giam giữ tại khám đường Chí Hòa.

Trong lúc chiếc máy bay chở ông Cẩn đang bay, thì Đại Sứ Lodge gọi về Hoa Thịnh Đốn báo tin là Tướng Trần Văn Đôn hứa sẽ cho ông Cẩn được xử án một cách phân minh và công bằng, bởi vậy ông quyết định giao ông Cẩn cho phe Cách Mạng. Ông CIA Lucein Conein kể là Đại Sứ Lodge dặn: “Tôi sắp xếp chuyến bay đặc biệt này và ông phải giải giao người trên phi cơ này cho quân Cách Mạng”.

Ông Cẩn bị nhốt trong khám Chí Hòa cho đến ngày 20/04/1964. Vào ngày này, ông Cẩn phải ra toà án Cách Mạng. Ngồi ghế chánh án là Đại tá Đặng Văn Quang (cấp bậc cuối cùng là Trung Tướng). Luật sư bào chữa cho ông Cẩn là Võ Văn Quang. Đại tá Đặng Văn Quang vốn là con đỡ đầu của thân mẫu đức cha Nguyễn Văn Thuận, con trai của chị ruột ông Cẩn). Nhân chứng tố cáo ông Cẩn là bà vợ của ông Nguyễn Đắc Phương. Ông Phương bị người của ông Cẩn bất ý làm té từ trên lầu cao trước đây.

Toà tuyên án tử hình ông Cẩn với đủ thứ tội như: thủ tiêu người ở Chín Hầm, tổ chức ám sát, bắt người vô cớ, buôn thuốc phiện, và làm thiệt hại kinh tế quốc gia. Trước toà, ông Cẩn nói: “Tôi quân sự không biết, hành chánh không biết, học vấn tầm thường thì làm sao ra lệnh cho ai được”.

Bốn ngày sau khi tuyên án, Luật sư của ông Cẩn đệ đơn xin ân xá. Hai ngày sau đó, Quốc Trưởng Dương Văn Minh bác đơn ân xá. Tướng Nguyễn Khánh, đại sứ Cabot Lodge có xin ân xá giùm nhưng không được Quốc Trưởng Dương Văn Minh chấp thuận và cương quyết xử tử hình ông Cẩn.

3. Ra Pháp Trường — Buổi sáng ngày ông Cẩn ra pháp trường, con gái bà Ấm (cháu gọi ông Ẩn bằng cậu ruột) được phép vào tận trong phòng giam thăm với sự hiện diện của nhân viên coi tù. Chị giơ năm ngón tay ra hiệu cho ông Cẩn (có nghĩa là 5 giờ chiều sẽ bị xử tử). Ông Cẩn khẽ gật đầu. Còn cô cháu gái thì khóc lóc lu bù, và không tiếc lời nguyền rủa những ai phản phúc với ông Cẩn. Ông Cẩn thì vẫn thản nhiên điềm đạm nói với cô cháu gái: “Không có gì đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính tri. là phải như thế. Cậu không có gì oán thán hết. Làm chính trị thì phải biết sẽ có ngày như thế này”.

Buổi chiều khoảng 5 giờ, các viên chức đã có mặt đầy đủ gồm có đại tá Trang Văn Chính, Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành, trung tá Nguyễn Văn Đức, Ủy viên Chính Phủ, luật sư Võ Văn Quang biện hộ cho ông Cẩn, bà Ấm, chị ruột của ông Cẩn và các viên chức cấp thấp cùng một tiểu đội hành quyết.

Tại trại giam Chí Hòa, người ra bắt đầu đưa ông Cẩn ra pháp trường. Các nhân viên trại giam phải xốc hai vai dẫn ông đi vì ông Cẩn đi đứng không nổi (do bị bệnh gout rất nặng, sưng khớp, người ông gần như bị tê liệt). Ông cố gắng bình thản nói với chị ông và các cháu (trong đó có bà Trần Trung Dung: “Không việc gì phải khóc lóc hay chửi rủa ai. Cứ cầu nguyện cho người ta. Cậu làm chính trị thì đã nghĩ đến ngày phải như thế này”.

Đại tá Chính và mấy người khác lên tiếng chào ông. Ông Cẩn bình thản trả lời đáp lễ: “Xin chào các ông”. Khi bị trói vào cột giữa sân banh của khám Chí Hòa, ông vẫn thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Ông đứng hơi nhón gót, mặc áo dài đen, mặc quần trắng, và đeo kiếng trắng. Rồi ông nói không cần phải bịt mắt. Nhưng trung tá Đức, ủy viên Chính Phủ, nói: “Đây là luật lệ bắt buộc như vậy”. Ông Cẩn đành chịu, ông cũng không quên lên tiếng xin mọi người tha thứ cho ông về những sai sót trong thời gian qua, nếu có. Cha Thính, nhà dòng Cứu Thế đã đọc kinh lạy cha cứu rỗi linh hồn ông Ngô Đình Cẩn “Xin cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ. Và tha tội chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi”. Luật sư Võ Văn Quang cũng tiến đến nói vài lời tiễn biệt cuối cùng và xin ông Cẩn cặp kiếng để làm kỷ niệm.

Không khí thật trầm buồn và căng thẳng trong nỗi thê lương. Tiểu đội hành quyết (đứng cách khoảng 15 mét) được lệnh lên đạn sẵn sàng. Tất cả mọi người đều long lanh ngấn lệ, nghẹn ngào giây phút tử biệt sinh ly. Rồi một loạt súng nổ, ông Cẩn đã trở về cõi thiên cổ!

Đầu ông gục xuống, lắc lư, máu ở ngục tuôn ra xối xả làm ướt chiếc quần trắng. Một đại uý xạ thủ tới rút súng Colt bắn vào đầu ông Cẩn phát súng ân huệ. Sau đó, xác ông Cẩn được tháo dây trói, phủ tấm vải trắng và đặt trên băng ca để khiêng trở lại khám đường. Người chị ông (bà Ấm) khóc rưng rức khi đi theo đoàn nhân viên coi tù khiêng băng ca. Nhìn tấm vải trắng loang lổ đầy máu, bà lại càng chảy nước mắt ràn rụa trên hai gò má!

Ông Ngô Đình Cẩn bị xử tử ngày 9 tháng 5 năm 1964, tức 1 năm 1 ngày sau ngày nổi dậy biểu tình của Phật giáo thân cộng tại Huế. Xác ông được gia đình ông bà Trần Trung Dung đem về chôn ở nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế (Chùa Phổ Quang cạnh Bộ Tổng Tham Mưu) với sự đồng ý của thượng tọa Thích Trí Dũng, trụ trì chùa này.

Bài viết của: Trịnh Quốc Thiên
Reply With Quote
  #10  
Andy Nguyen Andy Nguyen is offline
Thành Viên
 
Join Date: Aug 2009
Posts: 34
Default Ông Ngô Đình Cẩn bị giết như thế nào ?

Old Ngày 01-11-2009, giờ 08:33
Sau khi án tử hình đã tuyên, ngày hôm sau, đơn xin ân xá ông Ngô Đình Cẩn đã được chuyển đến tướng Dương Văn Minh là Quốc trưởng. Rồi Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cũng gửi một lá thư tới Dương Văn Minh xin ân xá cho tử tội Ngô Đình Cẩn với lý do là ông Cẩn đang bị bệnh gout sưng khớp rất nặng, ngày sống chỉ đếm được trên đầu ngón tay cho nên không cần thiết phải hành quyết ông Cẩn. Nhưng tất cả đều bị Dương Văn Minh bác thẳng thừng.
Tòa án báo cho thân nhân của gia đình ông Ngô Đình Cẩn là bà Ngô Đình Thị Hiệp, bà Ngô Đình Thị Hoàng (thường gọi là bà cả Lễ) là đơn xin ân xá cho ông Ngô Đình Cẩn đã bị Quốc trưởng Dương Văn Minh bác bỏ. Ông Ngô Đình Cẩn sẽ bị hành quyết vào lúc 17 giờ ngày 9/5/1964 tại Khám Chí Hòa.

Trước làn sóng phản đối việc kết án tử hình ông Ngô Đình Cẩn ngày càng lan rộng trong giáo dân, Tướng Dương Văn Minh quyết định thi hành án sớm.

Tại Sài Gòn, ngày giờ xử bắn ông Ngô Đình Cẩn được giữ rất kín. Có hai người được biết trước là luật sư Võ Văn Quan và linh mục Jean Baptiste Lê Văn Thí.

Ngày 8/5, linh mục Thí được vào gặp ông Ngô Đình Cẩn để làm lễ rước mình Thánh Chúa an ủi người sắp chết. Khi ông Thí vừa vào, chào hỏi xong thì ông Ngô Đình Cẩn đã hỏi ngay: "Ngày mai, họ đem con đi bắn phải không cha?". Linh mục Thí im lặng và khẽ gật đầu rồi hỏi lại: "Cậu có sợ không?". Ông Ngô Đình Cẩn cười, trả lời khá bình thản: "Con không sợ chút mô hết cha à!".

Linh mục Thí hỏi tiếp: "Cậu có tha thứ cho những người đã làm khổ cậu và gia đình cậu không?". Ông Ngô Đình Cẩn nói lớn, và rành rẽ: "Con tha thứ". Rồi ông Cẩn nói tiếp: "Con cũng mang tên Thánh là Jean Baptiste và cha cũng mang tên Thánh Jean Baptiste. Xin cha nhớ cầu nguyện cho con sớm lên Thiên đàng chầu Chúa và xin mọi người có đạo chứng kiến con chịu chết, xin đọc cho con một kinh lạy cha "Xin cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha tội cho chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi".

(ông Ngô Đình Cẩn là con út trong nhà nên hay được gọi là cậu Cẩn. Sau này khi ông Ngô Đình Diệm giành được quyền lực thì ông Ngô Đình Cẩn cũng được coi là nhân vật có thế lực quan trọng ở miền Trung, cho nên ai đến với ông Cẩn cũng không dám gọi tên mà chỉ gọi là ông Cậu).

Hôm sau, 10 giờ trưa ngày 9/5, luật sư Võ Văn Quan vào thăm ông Ngô Đình Cẩn lần cuối cùng. Sau này, ông Quan kể lại cho nhà báo Phan Kim Thịnh: "Sáng sớm ngày 9/5, cháu của ông Ngô Đình Cẩn là Trần Trung Dung vào thăm. Ông Cẩn nói chuyện một cách thản nhiên, không hề biểu lộ thái độ lo lắng, sợ sệt. Người cháu gái thì ngồi cạnh giường, khóc và nguyền rủa những kẻ phản phúc nhà họ Ngô. Nhưng ông Cẩn điềm tĩnh nói: "Không có gì đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính trị là phải như thế. Cậu không có gì oán thán hết".

Khi gặp luật sư Quan, ông Cẩn cũng vẫn tỏ thái độ bình thản. Ông Quan cũng không hề biết là chính ông Ngô Đình Cẩn cũng đã biết rõ ngày giờ hành quyết ông. Lúc đầu, hai bên chỉ nói chuyện có tính chất xã giao nhưng rồi đột nhiên ông Cẩn tâm sự về thân thế của ông và tiết lộ một số câu chuyện bí mật. Lời nói của ông như là một sự trăn trối khiến luật sư Quan giật mình và thầm nghĩ: "Có lẽ ông Cẩn biết rồi".

Rồi ông Ngô Đình Cẩn chuyển sang giải bày những mưu lược chính trị của mình với giọng hùng hồn, hoạt bát, mạch lạc. Ông Ngô Đình Cẩn cũng nhắc lại những cuộc tảo thanh đối với những người Cộng sản khi ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, và khẳng định làm chính trị thì phải chấp nhận thế thôi. Khi nói đến việc tảo thanh những người Cộng sản, ông Ngô Đình Cẩn ngẩng cao đầu, mắt sáng long lanh, mặt tỏ vẻ căm thù và nói như đếm từng tiếng.

Nhìn đồng hồ đã thấy gần 12 giờ trưa, ông Ngô Đình Cẩn bảo: "Luật sư đưa cho tôi cái danh thiếp của ông". Ông Quan ngạc nhiên không hiểu lúc này ông Ngô Đình Cẩn còn muốn có danh thiếp của mình để làm gì. Nhưng chiều ý, ông vẫn lấy danh thiếp đưa cho ông Ngô Đình Cẩn.

Ông Cẩn lấy bút viết vào phía sau danh thiếp: "Xin hết lòng đa tạ" và viết tên Ngô Đình Cẩn. Đưa lại danh thiếp cho luật sư, ông Ngô Đình Cẩn dịu giọng nói: "Tôi xin gửi lại chút này để cám ơn luật sư đã hết lòng biện hộ cho tôi". Luật sư Quan bối rối: "Thật sự tôi có giúp được gì cho Cậu đâu, họ vẫn xử tối đa". Ông Cẩn khẽ lắc đầu, gượng cười: "Vấn đề không phải ở đó. Viết mấy chữ này, tôi muốn tỏ lòng tri ân đối với người luật sư không từng quen biết, nhưng đã tận tình và can đảm nói lên giữa phiên tòa những gì tôi muốn nói".

Rồi ông Ngô Đình Cẩn lại bình tĩnh trò chuyện, lấy giấy cuốn thuốc lá theo kiểu sâu kèn, phì phèo hút, rồi lại têm trầu nhàn nhã nhai bỏm bẻm. Ông Quan đứng dậy cáo từ cố giữ nét mặt bình thường. Ông Ngô Đình Cẩn bắt tay luật sư Quan rất chặt và rất lâu, đồng thời luồn bàn tay trái xuống gầm bàn, nhìn xuống đó ra hiệu. Ông Quan thấy bàn tay trái của ông Ngô Đình Cẩn xòe ra 5 ngón như thể báo hiệu rằng chiều nay vào lúc 5 giờ ông sẽ bị hành quyết.

Sau này, mỗi khi nhớ lại vụ hành quyết ông Ngô Đình Cẩn, luật sư Quan vẫn tỏ thái độ kính trọng, khâm phục một con người biết cái chết đang đến với mình từng giờ, từng phút mà vẫn ngồi nói chuyện bình tĩnh hàng tiếng đồng hồ.

Cũng phải nói thêm rằng, ông Ngô Đình Cẩn khi chết đi đã để lại rất nhiều của cải và bảo đại úy Nguyễn Văn Minh giao số vàng, đôla, kim loại quý cho Tướng Đỗ Cao Trí giữ là 2 bao bố chỉ xanh.

Sau khi làm các thủ tục về giấy tờ, các ký giả báo chí có mặt ở Bộ Thông Tin từ lúc 14 giờ. Tất cả được đưa lên chiếc xe 18 chỗ đi vào Khám Chí Hòa. Tới cổng khám, ở trạm gác thứ nhất, nhân viên yêu cầu khám xét hành lý và thu giữ lại tất cả máy ảnh. Chụp ảnh buổi hành quyết chỉ có 3 người của Bộ Thông Tin và nhân viên của An Ninh Quân Đội. Sau đó các ký giả được dẫn ra một sân rộng đầy cỏ cây hoang dại và có chôn sẵn một chiếc cột gỗ và trường bắn nằm gần một ngôi chùa nhỏ.

Đúng 5 giờ chiều, các thủ tục cho buổi hành quyết ông Ngô Đình Cẩn được bắt đầu tại phòng làm việc của Trung tá Phạm Văn Luyện, Quản đốc Khám Chí Hòa. Những người có mặt tại đây là Đại tá Trang Văn Chính, Giám đốc Nha Cảnh sát đô thành; Thiếu tá Nguyễn Văn Đức, Chưởng lý Tòa án quân sự; bà cả Lễ là chị ruột ông Ngô Đình Cẩn; luật sư Võ Văn Quan và một số người khác nữa. Đoàn người đến thẳng phòng giam của ông Ngô Đình Cẩn và lặng lẽ bước vào.

Nghe tiếng giày, ông Ngô Đình Cẩn đang nằm trên giường hé mắt nhìn rồi khép lại, miệng lầm rầm cầu nguyện cùng với một vị linh mục đứng cạnh giường đọc kinh. Bóng đèn điện từ trên trần nhà tỏa sáng một màu ánh sáng vàng vọt, thê lương. Thiếu tá Đức đến bên giường, đọc bản bác đơn xin ân xá của ông Ngô Đình Cẩn. Khi Nguyễn Văn Đức đọc xong, luật sư Quan đến bên ông Cẩn nắm lấy hai bàn tay. Tay ông Ngô Đình Cẩn nóng hổi, mặt ửng hồng và rõ ràng đang sốt rất cao vì ông đang bị bệnh nặng.

Luật sư Quan cố gượng nói: "Thôi ông cố vấn đừng quá đau buồn. Trên cõi đời này dù sớm hay muộn rồi ai cũng phải ra đi”. Ông Ngô Đình Cẩn điềm tĩnh: "Luật sư đừng có buồn cho tôi. Tôi đi theo mấy ông anh của tôi. Tôi trở về với Chúa. Tôi không sợ chết đâu. Nhưng tôi lo cho luật sư, lúc cãi cho tôi, luật sư có đụng chạm tới họ. Không biết luật sư ở lại có bị họ làm khó dễ hay không". Luật sư Quan ứa nước mắt: "Không sao đâu, ông cố vấn đừng lo cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được vào nước Chúa".

Thủ tục tiếp theo là vị linh mục làm lễ và cầu nguyện cùng ông Cẩn. Khi được nói lời cuối cùng là tử tội có xin ân huệ gì không thì ông Ngô Đình Cẩn xin rằng được quyền mặc quần trắng, áo dài đen vì ông muốn được chết trong bộ quốc phục Việt Nam (thời đó chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa ấn định quốc phục của Việt Nam Cộng Hòa là quần trắng, áo dài đen, đội khăn xếp). Hơn nữa ông Cẩn cũng muốn mặc bộ này đó là vì chiếc áo được thân mẫu may cho khi còn ở Huế. Rồi ông cũng nói với mọi người là ông tha thứ cho những người đã giết ông.

Yêu cầu của ông Ngô Đình Cẩn được đáp ứng, những viên cai ngục giúp ông thay quần áo. Rồi thiếu tá Nguyễn Văn Đức ra lệnh cho 2 nhân viên xốc nách dìu ông Cẩn ra khỏi phòng giam và xuống cầu thang. Vì ông Ngô Đình Cẩn bị bệnh sưng khớp rất nặng không thể đi được, nên người ta phải đặt ông lên một chiếc băng ca và đẩy đi suốt hành lang này qua hành lang khác. Ra khỏi khu "lò bát quái", ông Ngô Đình Cẩn được chuyển sang một băng ca khác do 4 người cai ngục khiêng, chiếc băng ca được khiêng ra giữa sân có cắm một chiếc cọc thì cả đoàn người dừng lại...

Thiếu tá Đức ra lệnh cho đám cai tù xốc nách đỡ ông Ngô Đình Cẩn dậy, dìu ra cột. Khi ông Cẩn được dìu tới cột gỗ thì một người lính trong đội hành quyết cung kính nói nhỏ với ông Cẩn là xin phép được trói hai tay ra đằng sau, hai tay được đặt lên một thanh ngang giống như cây thánh giá mục đích là để người bị tử hình không tụt được xuống. Một người lính cai ngục lấy chiếc khăn đen kính cẩn bịt mắt tử tội thì ông Ngô Đình Cẩn lắc đầu liên tục và nói: "Tôi không cần bịt mắt. Tôi không sợ chết". Nhưng người ta vẫn buộc khăn vào một cách vụng về, vì vậy không chỉ bịt mắt mà bịt gần hết khuôn mặt ông Cẩn.

Đội hành quyết gồm 10 người lính mặc quân phục Quân Cảnh, chia làm 2 hàng. Hàng trước 5 người quỳ, hàng sau 5 người đứng. Trong 10 người thì có 1 người được xử dụng khẩu súng mà trong đó lắp 1 viên đạn mã tử. Đúng 18 giờ 20 phút, giờ hành quyết đã tới, Nguyễn Văn Đức giơ tay ra lệnh thi hành. Viên sĩ quan chỉ huy đội hành quyết hô lớn: “Bắn!". Một loạt súng nổ, ông Ngô Đình Cẩn rũ người xuống ngay lập tức. Máu từ trên ngực chảy loang xuống chiếc quần trắng. Ngay sau đó viên chỉ huy đội hành quyết chạy đến dí khẩu súng colt 12 ly vào mang tai ông Ngô Đình Cẩn và bắn phát ân huệ. Bác sĩ pháp y chạy ra dùng ống nghe dí vào ngực ông Ngô Đình Cẩn nghe ngóng, vạch mắt ra xem, rồi quay lại gật gật đầu ra ý là ông Ngô Đình Cẩn đã chết.

Trung tá Luyện, Quản đốc Khám Chí Hòa ra lệnh cho mấy viên cai ngục cởi trói hạ xác ông Ngô Đình Cẩn đặt vào băng ca rồi khiêng vào Khám Chí Hòa để khâm liệm và cho thân nhân nhận xác mang về chôn cất. Xác ông Ngô Đình Cẩn được đưa về an táng tại nghĩa trang chùa Phổ Quang, tức nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế gần phi trường Tân Sân Nhất.

Sở sĩ gia đình an táng ông Ngô Đình Cẩn tại đây là vì Thầy trụ trì Thượng tọa Thích Chí Dũng là người thân quen với gia đình họ Ngô. Sau năm 1975, khi cộng sản ra lệnh phá bỏ nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế ở chùa Phổ Quang. thì mộ ông Ngô Đình Cẩn cũng được đưa về Lái Thiêu nằm cạnh mộ của thân mẫu và 2 người anh là Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu

Bài viết của: Như Phong
Reply With Quote
  #11  
vivi vivi is online now
Thành Viên
 
Join Date: Jun 2008
Posts: 505
Default

Old Ngày 01-11-2009, giờ 20:11
Ngẫm lại những người lớn : Tướng, Tá khi đó cũng thấy buồn cho Dân Nam .
Cũng vậy, Nước Việt hôm nay sẽ bị Tàu Đỏ nuốt từ từ . Vì, Lũ theo đảng cộng sản cũng là một lũ ngốc tham danh lợi mà diệt nước hại dân .

...!...
Vivi
Reply With Quote
  #12  
ThoChieu ThoChieu is offline
Thành Viên
 
Join Date: Oct 2009
Posts: 20
Default

Old Ngày 01-11-2009, giờ 23:51
Quote:
Originally Posted by Andy Nguyen View Post

Bốn ngày sau khi tuyên án, Luật sư của ông Cẩn đệ đơn xin ân xá. Hai ngày sau đó, Quốc Trưởng Dương Văn Minh bác đơn ân xá. Tướng Nguyễn Khánh, đại sứ Cabot Lodge có xin ân xá giùm nhưng không được Quốc Trưởng Dương Văn Minh chấp thuận và cương quyết xử tử hình ông Cẩn.
Ba anh em ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn đều chết trong tay đồ tể Dương văn Minh. Hai ông Diệm, Nhu thì do Dương văn Minh sai tay cận vệ là đại úy Nhung trực tiếp dí súng hạ sát. Còn ông Cẩn bị hành quyết vì Dương văn Minh cương quyết xử tử ông.
Reply With Quote
  #13  
ThoChieu ThoChieu is offline
Thành Viên
 
Join Date: Oct 2009
Posts: 20
Default

Old Ngày 02-11-2009, giờ 00:06
Quote:
Originally Posted by Andy Nguyen View Post
...
Cũng phải nói thêm rằng, ông Ngô Đình Cẩn khi chết đi đã để lại rất nhiều của cải và bảo đại úy Nguyễn Văn Minh giao số vàng, đôla, kim loại quý cho Tướng Đỗ Cao Trí giữ là 2 bao bố chỉ xanh.
...
Bài viết của: Như Phong
Đọc đoạn trên một số người không rõ lại tưởng ông Cẩn là tham quan hối lộ nên có nhiều vàng.

Ông Cẩn vốn là thủ quỷ của đảng Cần Lao nên tiền bạc chi thu đều do ông nắm giữ. Nếu ông Cẩn là người gian tham coi trọng tiền bạc thì khi nghe tin hai bào huynh bị "hội đồng quân nhân cách mạng" do Dương văn Minh lãnh đạo sát hại, ông Cẩn sẽ vội vàng đem hết số vàng bạc đang nắm giữ chia hết cho gia đình và mọi người thân thuộc để biển thủ. Ông Cẩn đã không làm như vậy, ông đã đem hết số vàng trao lại cho tướng Đỗ Cao Trí để, một là dùng số vàng để tiếp tục duy trì đảng Cần Lao, hai là nhờ tướng Đỗ Cao Trí trả lại cho quốc gia. Xét như thế thì anh em ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn đều là những người thanh liêm chính trực.
Reply With Quote
  #14  
Peterphu Peterphu is online now
Thành Viên
 
Join Date: Jun 2008
Posts: 126
Default Ai giêt...

Old Ngày 02-11-2009, giờ 13:14
N ghiệp chứng.

Hỡi những tên chó đẻ của cả hai miền.
Bầy phản phúc lừa thầy phản bạn.
Lũ bất nhân bạo ngược tham tàn.
Bầy sát nhân man rợ
Rồi đây tất cả lũ chúng bay phải đền tội.
Hoặc chính đời bay hoặc di họa vào toàn đời con cháu nhà bay.
Đừng mong chối cãi. Đừng mong chống đỡ.
Đó là luật Trời. Đó là đạo Phật.
Đó là luật tự nhiên.
Chớ có than phiền.
Bởi chúng bay loài ác.
Phải đọa này nghiệp chướng.
Quàng vào cổ vào đầu.
Loài nghiệt xúc tanh hôi.
Reply With Quote
  #15  
Alex Alex is offline
Thành Viên
 
Join Date: Mar 2009
Posts: 37
Default

Old Ngày 03-11-2009, giờ 08:10
Mot lu tuong ta phan loan giet Co Tong Thong Ngo Dinh Diem, Ong Co van Ngo Dinh Nhu, Ong Ngo dinh Cạn De roi dua dat nuoc den ngay 30/4/75.

Toi co gap Duong Hieu Nghia khi toi Mỵ Vi ban tay vay may giet anh em Co Tong Thong Ngo Dinh Diẹm Duong Huu Nghia da xuong toc di tu sam hoi da nhung tay giet anh em Co TT Ngo Dinh Diẹm Ban tay vay mau Duong Hieu Nghia co tu bao nhieu kiep cung khong the het tọi
Reply With Quote
  #16  
Đống Đa Đống Đa is offline
Thành Viên
 
Join Date: Feb 2009
Posts: 10
Default Ai Giết Tổng Thống?

Old Ngày 03-11-2009, giờ 08:32
Lịch sử Việt Nam có nhiều biến cố quan trọng. Lịch sử cận đại có biến cố 1 tháng 11 năm 1963, được xem là một dấu mốc đáng ghi nhớ vì nó mở đầu cho một sự thay đổi lớn lao của đất nước Việt Nam. Ngày này, 45 năm trước, các tướng lãnh của miền Nam đã thành công trong cuộc đảo chánh lật đổ chính quyền Ngô Ðình Diệm. Cũng từ đó, cuộc chiến chống cộng sản trở nên khốc liệt hơn, rồi cuối cùng, quân cộng sản Hà Nội đã chiếm trọn Việt Nam, đưa cả nước vào quỹ đạo cộng sản.
Hậu quả là một nước Việt Nam bị phá sản toàn diện, từ kinh tế, chính trị đến đạo đức, giáo dục, văn hóa,… Cái mốc lịch sử này được ghi dấu qua cuộc ăn mừng của cộng sản Hà Nội sau khi nghe tin tổng thống Ngô Ðình Diệm bị sát hại. Ăn mừng là vì miền Nam không còn ai là đối thủ đáng ngại khiến cho cộng sản Hà Nội tin rằng họ sẽ chiến thắng.

Biến cố lịch sử này, thế hệ lớn lên sau chính biến 1-11 đã có nhiều người thắc mắc tại sao hai ông Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu bị sát hại trong chiếc xe bọc thép, trên đường giải giao về Bộ Tổng Tham Mưu? Tại sao, anh em ông Ngô Ðình Diệm đã đầu hàng và chịu nạp mình mà vẫn bị thảm sát? Cuộc thảm sát này lại được thực hiện mờ ám trong một thiết giáp M-113. Ðã có nhiều tài liệu nói về cuộc chính biến này được công khai hóa, từ những thùng hồ sơ của cơ quan tình báo Hoa Kỳ đến những hồi ký của những người trong cuộc, nhưng vẫn còn có những điểm lờ mờ quanh cái chết của hai ông.

Khi ôn lại diễn biến của sự kiện 1-11-1963 , người ta vẫn gặp phải câu hỏi thường được đặt ra trong 45 năm qua: Ai đã ra lệnh giết anh em ông Diệm? Tại sao?

Ngay từ ngày 3 tháng 11, năm 1963, báo chí ở Sài Gòn đã loan tải theo lời tuyên bố của các tướng lãnh đạo cuộc đảo chánh nói rằng, hai ông đã tự vận trong chiếc xe bọc sắt M-113, trong lúc bị giải giao về Bộ Tổng Tham Mưu. Trong các cuộc họp báo, chính quyền mới không thể giải thích tại sao hai anh em ông Diệm bị chết trong vũng máu trên sàn xe bọc thép. Người ta cố tình lờ đi theo kiểu chờ cho thời gian biến cứt trâu thành bùn để xóa mờ vụ này. Một mặt, chính quyền sợ dư luận cho rằng mình làm tay sai cho Mỹ, mà cũng không muốn để cho Mỹ bị mang tiếng là kẻ chủ mưu về cái chết thảm của hai ông Diệm và Nhu; cho nên các báo chí thân chính quyền đã có những bài viết cố tình hướng dẫn dư luận sai lệch thật xa sự thật.

Ðôi khi còn có những bài viết thêu dệt trắng trợn về những con đường hầm dẫn từ Dinh Gia Long ra đến nhà thờ Ðức Bà, hay từ trong dinh ra đến phi trường,… có đến 7 đường hầm bí mật. Chỉ với mục tiêu hướng dẫn sai lạc trong dư luận và tô đậm thêm tính cách tàn ác của hai anh em ông Diệm và Nhu, để rồi phải chấp nhận cái chết của hai ông là hợp lý. 45 năm sau, báo Công An của cộng sản Việt Nam vẫn còn sử dụng những bài viết này để tiếp tục bôi nhọ chế độ Ngô Ðình Diệm và ghi tên ông Dương Văn Minh trong tự điển những nhân vật lịch sử do cộng sản Hà Nội in vào năm 2006.

Nhưng rồi, 45 năm qua người ta vẫn phải đối diện với câu hỏi: Ai đã ra lệnh giết anh em ông Diệm? Tại sao?

Mối Hận Lâu Năm Với Anh Em Ông Diệm

Tưởng cũng cần tóm lược biến cố chính trị xảy ra vào ngày 1 tháng 11 năm 1963, đã được nói ngắn gọn là chính biến 1-11, và một vài dữ kiện chung quanh.

Năm 1954, nước Việt Nam bị chia đôi ở vĩ tuyến 17; miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản, cai trị bởi tập đoàn Hồ Chí Minh. Miền Nam theo chủ nghĩa Quốc Gia dưới sự lãnh đạo của Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm.
Một năm sau, dân chúng miền Nam tín nhiệm ông Ngô Ðình Diệm vào chức vụ Tổng Thống và ông Ngô Ðình Nhu được tổng thống chọn làm cố vấn chính trị. Tổng thống Ngô Ðình Diệm tiếp thu một vùng đất từng là thuộc địa của Pháp, với các phe phái tôn giáo, chính trị và băng đảng trong xã hội. Phe phái nào cũng có lực lượng võ trang và thống lĩnh một vùng đất làm giang sơn riêng biệt. Những biệt danh nghe quen thuộc như Bảy Viễn, Năm Lửa, Ba Cụt,… là những vị tướng lãnh đạo các lực lượng võ trang này, trong đó có cả giáo phái Phật Giáo Hòa Hảo,…

Trong cương vị lãnh đạo, ông Diệm nhận trọng trách củng cố tình hình chính trị xã hội và xây dựng quân đội cho miền Nam để sẵn sàng đối đầu với cuộc xâm lăng của cộng sản Hà Nội. Ngoài ra, gánh nặng của chính phủ còn phải lo cho gần một triệu người di cư tỵ nạn cộng sản, chạy từ Bắc vào Nam cần được chính phủ lo nơi ăn chốn ở.

Các lực lượng võ trang chống chính phủ, có nhóm chịu về hợp tác với chính phủ và cũng có lực lượng chấp nhận đối đầu và cuối cùng bị quân đội đánh tan. Trong hai năm 1954 và 1955, chính phủ Ngô Ðình Diệm đã mạnh tay giải quyết vấn đề phe phái, nhưng cũng chuốc lấy nhiều oán thù. Ngay trong giới lãnh đạo quân đội của miền Nam cũng có nhiều người thù ghét ông Diệm vì hoặc không được tin dùng, hoặc bị ngoại nhân mua chuộc, trở thành thế lực nguy hiểm cho chế độ nhà Ngô.

Ngay từ những ngày đầu của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa ở miền Nam, ông Diệm đã gặp sự chống đối của Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Nhiều sĩ quan ở Bộ Tổng Tham Mưu bị ông Hinh thuyết phục thành lập lực lượng chống ông Diệm, phần lớn là những người được quân đội Pháp đào tạo.
Tháng 11 năm 1954, qua sự can thiệp của Mỹ, quốc trưởng Bảo Đại ra lệnh cho tướng Nguyễn Văn Hinh phải rời Việt Nam, và trung tá Dương Văn Minh, sau đó được thăng lên đại tá, là người được Mỹ tin dùng, đưa ra hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm để ổn định xã hội miền Nam.

Tháng Ba, năm 1955, tướng Lê Văn Viễn, tức Bảy Viễn không thương lượng được với ông Diệm để cho Bình Xuyên kiểm soát các sòng bài ở Sài Gòn, nên đã ra lệnh tấn công vào các đồn cảnh sát ở Sài Gòn. Ðây cũng là ngày bắt đầu cuộc càn quét thẳng tay của quân đội quốc gia dưới sự chỉ huy của đại tá Dương Văn Minh. Ông Minh được sự hợp tác của các sĩ quan thâm niên trong binh chủng Nhảy Dù.
Thanh toán xong Bình Xuyên, ông tiếp tục cuộc hành quân xuống đến miền Tây Nam Bộ, băng qua các vùng sình lầy đến tận biên giới Cao Miên, truy lùng quân kháng chiến Hòa Hảo, là lực lượng mà cả Pháp lẫn cộng sản không thể nào đánh hạ được. Ông Minh và ông Nguyễn Ngọc Thơ đánh lừa và bắt được tướng Lê Quang Vinh, tức Ba Cụt của Hòa Hảo. Tướng Ba Cụt bị xử tử bằng máy chém, mà những người theo đạo Phật Giáo Hòa Hảo không thể nào quên mối hận này. Tuy nhiên, ông Minh luôn tỏ ra là một quân nhân, ông không hề bận tâm.

Lập công xong, ông Minh chờ đợi được thăng thưởng nhưng không được như ý muốn. Ký giả người Pháp, Pierre Darcourt viết trong sách Vietnam, Qua’as-tu Fait De Tes Fils?: “Minh, qui est un tres bon combattant, mais vénal, pas très intelligent et surtout n’entendant rien à la politique…” (ông Minh là người đánh giặc giỏi nhưng dễ bị mua chuộc, không thông minh lắm và nhất là không biết gì nhiều về chính trị…). Pierre Darcourt kể lại lời nhận xét của ông Nhu nói với ông Diệm và cản không cho ông Diệm cất nhắc ông Minh ở chức vụ cao hơn.

Từ ấy cho đến năm 1959, vai trò ông Minh ngày càng lu mờ. Ông Minh được cử làm sĩ quan thanh tra các Quân Ðoàn I và II (miền Trung và Cao Nguyên), nhưng ông vẫn ngồi ở Sài Gòn vì cho rằng ông Ngô Ðình Cẩn (em ông Diệm) làm hết rồi.
Cuộc binh biến năm 11-11- 1960 các sĩ quan Nhảy Dù lãnh đạo cuộc đảo chánh có đến mời ông Minh nhưng ông Minh từ chối. Vụ này thất bại và những người chủ mưu đã chạy sang Cao Miên để lánh nạn. Năm 1961, ông nhận chức vụ Tư Lệnh Hành Quân, cũng chỉ là tượng trưng. Năm 1963, ông được chỉ định làm Cố Vấn Quân Sự Phủ Tổng Thống, cũng vẫn là chức vụ ngồi chơi rồi đi đánh tennis.

Pierre Darcourt, ký giả người Pháp, sinh ra ở Việt Nam, phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù của Pháp đánh giặc ở Việt Nam. Năm 1954, bắt đầu bước vào làng báo với tư cách phóng viên chiến trường, có mặt trên khắp vùng chiến thuật cho đến ngày chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị bứt tử. Ông ghi lại nhận xét của ông cố vấn Ngô Ðình Nhu về tướng Dương Văn Minh: “Il a la force d’un éléphant mais la cervelle d’un oiseau-mouche.” (Anh ta có sức như một con voi, nhưng có bộ óc con chim sâu).
Ông Minh chờ đợi được ngồi vào ghế thay thế tướng Lê Văn Tỵ là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội, nhưng tướng Trần Văn Ðôn lại được cử làm quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội khi đại tướng Lê Văn Tỵ xuất ngoại để chữa bệnh.

Ðược mệnh danh là anh hùng rừng Sác nhưng sao bảo là không đủ khả năng. Ông Dương Văn Minh coi đây là mối nhục. Ngay từ những năm của thập niên 50 và 60, các vị lãnh đạo trong quân đội cũng đã nói, ông Minh chưa bao giờ cầm quân đánh cộng sản mà chỉ đánh các giáo phái mà thôi. Ðiều này được nói rõ ràng hơn trong cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình Little Saigon TV ở miền Nam California, vào năm 2001. Tướng Khánh nói rằng:

“…Ông Dương Văn Minh là người miền Nam duy nhất ủng hộ ông Diệm xuyên qua ông Nguyễn Ngọc Thơ. Khi đưa ông Minh lên tới trung tướng mà không làm gì hết, không biết để ổng ở đâu. Ông Dương Văn Minh không có đánh cộng sản một ngày…”

Biến Cố 1-11-1963

Tài liệu của Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA), trong những phần đã giải mật có xác nhận chế độ Ngô Đình Diệm cản trở chương trình của Mỹ tại Đông Dương. Chính phủ Hoa Kỳ đã có ý định thiết lập một chế độ Cộng Hòa không có ông Diệm.



CIA- William Cosby



CIA- Tài liệu giải mật

Mỗi năm, báo của VC vẫn lải nhải lên án Tướng Trần Thiện Khiêm nhận lệnh của Mỹ từ Washington, giết anh em ông Diệm rồi đổ cho tướng Dương Văn Minh. Báo Công An của VC số ra ngày 17 tháng Sáu, 2008, vẫn còn lải nhải, đăng bài nhiều kỳ, xào đi nấu lại, viết rằng: “Theo kế hoạch đã định, tướng Minh Lớn lên làm chủ tịch cái gọi là Hội đồng cách mạng. Dinh Gia Long, nơi anh em Diệm – Nhu đang trú ngụ, bị quân đảo chính bao vây. Rất nhiều viên tướng, kể cả tướng Minh Lớn và tướng Đôn, đã phải đôn đáo vào gặp tướng Khiêm tại đó. Có những nguồn tin cho rằng, cùng ở đó với tướng Khiêm là Trung tá CIA Conein…
…Nên tới 6h45′, Ngô Đình Diệm đã gọi điện thoại đến cho tướng Khiêm và thông báo rằng, ông ta đang cùng Ngô Đình Nhu ẩn náu tại nhà thờ cha Tam thuộc khu vực Chợ Lớn và yêu cầu đem xe đến đưa về Bộ Tổng tham mưu gặp tướng Minh Lớn và tướng Đôn, mà ông ta cho là chủ mưu đảo chính để điều đình. Ngô Đình Diệm đã không ngờ rằng, chính Trần Thiện Khiêm theo lệnh từ Washington đã kín đáo ra lệnh cho thuộc hạ hạ sát anh em Diệm – Nhu trên đường.”.

Vào tháng Mười Một, năm 2003, đánh dấu 40 năm cuộc đảo chánh 1-11-1963, tiến sĩ John Prados đã cho xuất bản tài liệu “JFK and the Diem Coup”. Tài liệu này có đầy đủ các đoạn băng thu âm thanh cũng như các công điện ghi lại những diễn biến trong thời gian cuộc đảo chánh xảy ra. Tài liệu bao gồm các đoạn âm thanh của các buổi họp bí mật tại Tòa Bạch Ốc, giữa Tổng thống Kenedy và các nhân viên cố vấn Tổng thống; các cuộc điện đàm với Tổng thống Kenedy ngay sau khi cuộc đảo chánh kết thúc. Những tài liệu này đã được giải mã sau 40 năm, theo nguyên tắc của chính phủ Hoa Kỳ. Tiến sĩ Prados đã chứng minh chính phủ Hoa Kỳ có ý muốn tìm người thay thế ông Diệm, nhưng không bao giờ có ý định sát hại anh em ông Diệm.

Dưới mắt Hoa Kỳ, sau khi cộng sản Hà Nội cho ra đời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì Việt Nam Cộng Hòa sẽ gặp khó khăn trên mặt trận du kích cũng như chính trị. Mỹ muốn tiếp tục viện trợ quân sự cho miền Nam với điều kiện phải đổ quân Mỹ và đồng minh vào miền Nam để can thiệp trực tiếp, với các vũ khí tối tân hơn.
Tháng Sáu năm 1963, tướng Trần Văn Đôn và Dương Văn Minh được tham dự cuộc biểu diễn các vũ khí mới của Mỹ tại Thái Lan, càng khiến hai ông cảm thấy quân đội Việt Nam lạc hậu cần phải cải thiện mới đương đầu được với cộng sản. Trong khi ấy, Tổng thống Ngô Đình Diệm nhất định chống đối ý kiến này với lý do nếu cho phép quân đội đồng minh đổ quân vào Việt Nam thì cả khối cộng sản sẽ mượn cớ để leo thang chiến tranh, và miền Nam mất chính nghĩa.

Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm được thiết lập, tại miền Nam sinh ra các phe cánh chống đối chính phủ. Trong đó có các giáo phái Cao Đài, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo,… cũng như các chính đảng như Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Lại thêm có xung đột giữa Phật Giáo và Công Giáo.
Đối với Hoa Kỳ, không có đối lập là không có dân chủ. Đó là khẩu hiệu để Hoa Kỳ và các thế lực chống đối chính phủ đòi hỏi Tổng thống Ngô Đình Diệm phải chấp nhận sinh hoạt đối lập tại chính trường miền Nam . Ông Diệm không tán thành đối lập theo kiểu Mỹ. Cho nên, chỉ còn một cách duy nhất là ông Diệm và chính phủ của ông phải ra đi.

Các tướng lãnh miền Nam và các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ gặp nhau ở một điểm là loại bỏ ông Diệm. Nhưng, một số tướng lãnh lợi dụng cơ hội để rửa mối thù riêng tư. Trong đó có tướng Dương Văn Minh.

Đoàn Xe An Ninh Hộ Tống Anh Em Ông Diệm

Ngày 1 tháng 11-1963 được định là ngày N của cuộc đảo chánh. Các tướng lãnh được triệu tập về Bộ Tổng Tham Mưu để họp. 1 giờ 30 trưa, tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, tuyên bố đảo chánh và bắt đầu và hỏi từng sĩ quan có mặt.
Đại Tá Cao Văn Viên, Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn Dù và Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt từ chối không theo nhóm đảo chánh. Cả hai ông đều bị quân cảnh còng tay đem nhốt trong một căn phòng tại Bộ Tổng Tham Mưu. Cùng bị nhốt chung với hai vị đại tá này có Trung Tá Nguyễn Ngọc Khôi, Tư Lệnh Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống, Đại tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư Lệnh Không Quân, Trung Tá Nguyễn Văn Thiện, Chỉ Huy trưởng Thiết Giáp Binh và Đại Tá Trần Văn Trung, Tùy viên Quân sự ở Pháp từ Paris vừa mới về nuớc,…

Tối ngày 1 tháng 11, thành Cộng Hòa đầu hàng, quân đảo chánh khám phá hai anh em ông Diệm-Nhu không có mặt trong dinh. Các tướng lãnh bắt đầu lo lắng. Cũng tối hôm ấy Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, và em trai của ông là Thiếu Tá Lê Quang Triệu, Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt bị đem ra nghĩa trang cạnh Bộ Tổng Tham Mưu bắn chết. Chưa có tài liệu cho biết chính xác ai đã ra lệnh xử tử hai vị sĩ quan này. Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân cũng bị thủ tiêu mờ ám ở rừng cao su Thủ Đức.

Khoảng 5 giờ sáng ngày 2 tháng 11, tùy viên của ông Diệm điện thoại từ nơi trú ẩn của hai ông, ở Chợ Lớn gọi về Bộ Tổng Tham Mưu để điều đình nhưng không thành. 6 giờ sáng lại có một cú điện thoại khác, cũng từ Chợ Lớn gọi về cho biết hai ông đang ở nhà thờ Cha Tam và chấp nhận về Bộ Tổng Tham Mưu để cùng thảo luận với các tướng lãnh. Đây là cú điện thoại được xem là hai ông chấp nhận đầu hàng, yêu cầu đem xe đến đón.

Ðúng vào lúc này, đoàn xe thiết giáp do thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa chỉ huy đến Dinh Gia Long để đón hai anh em ông Diệm nhưng hai ông không có ở đó, và đã trở về đến sân cờ Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu tá Nghĩa được yêu cầu cho đoàn xe hướng về nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn để “bắt hai ông đem về đây”, theo lệnh của tướng Dương Văn Minh. Trước đó, tướng Mai Hữu Xuân và Đại Tá Dương Ngọc Lắm cũng đã nhận lệnh từ Tướng Dương Văn Minh đi “đón hai ông” về Bộ Tổng Tham Mưu.

Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa, sau này là Đại tá, đơn vị sau cùng là Ủy Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên, hiện nay đã xuất gia, tu ở một chùa tại miền Nam California, Hoa Kỳ. Cuối tháng Tám, năm 2008, trong một dịp gặp gỡ, ông đã tuần tự kể lại diễn biến của chuyến “an ninh hộ tống” mà ông chịu trách nhiệm từ nhà thờ Cha Tam về Bộ Tổng Tham Mưu.
Ông Nghĩa còn cho biết, chính ông đã bảo lãnh cho Trung tá Nguyễn Văn Thiện, thượng cấp của ông, và đề nghị để ông ngồi ở Bộ Chỉ Huy Lưu Động Thiết Giáp Binh, đặt ở lầu dưới Bộ Tổng Tham Mưu. Đại tá Cao Văn Viên (sau này là Đại tướng) về sau cũng cho biết, nhờ các sĩ quan bạn hữu của ông bảo lãnh nên ông không bị thanh toán bởi nhóm tướng lãnh đảo chánh.

Ðoàn xe gồm có xe Quân Cảnh đi đầu mở đường, rồi đến xe Jeep do thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa cầm lái và đại úy Phan Hòa Hiệp (sau này là Chuẩn Tướng) ngồi ghế bên phải. Băng ghế sau là tài xế và người lính truyền tin.
Xin mở dấu ngoặc ở đây để giải thích thêm về chiếc xe này. Ông Dương Hiếu Nghĩa thường cầm lái xe Jeep trong lúc sử dụng quân xa đi công tác, và bảo tài xế ra ngồi ở băng sau. Trên xe, hệ thống truyền tin đặc biệt có thể liên lạc với Bộ chỉ huy lưu động Thiết Giáp Binh và các thiết vận xa trong đoàn. Hệ thống này cũng liên lạc trên các tầng số của Bộ Binh vì trong đoàn xe có lính bộ binh tùng thiết, và với Bộ Tổng Tham Mưu. Trung tá Nguyễn Văn Thiện có mặt ở bộ chỉ huy lưu động Thiết Giáp Binh cũng được theo dõi chuyến di hành của trung đội Thiết Giáp an ninh hộ tống, do thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa điều động.

Theo sau xe Jeep của thiếu tá Nghĩa là hai chiếc xe Jeep của tướng Mai Hữu Xuân và đại tá Dương Ngọc Lắm. Sau đó là 4 chiếc thiết vận xa M-113, chiếc thứ ba được dùng để chở hai anh em ông Diệm. Kế tiếp là xe vận chuyển lính bộ binh tùng thiết và sau cùng là chiếc thiết vận xa M-113, có mặt trung đội trưởng.
Trước khi đoàn xe lên đường, đại úy Nguyễn Văn Nhung có đến gặp thiếu tá Nghĩa để xin tháp tùng theo đoàn xe, và đã lên thiết vận xa số 3. Đại úy Nhung là cận vệ của trung tướng Dương Văn Minh được lệnh đi theo đoàn xe vào Chợ Lớn với công tác đặc biệt.

Ðến trước nhà thờ Cha Tam, đại úy Phan Hòa Hiệp giúp thiếu tá Nghĩa điều động đoàn xe, quay đầu hướng về Bộ Tổng Tham Mưu và sắp đội hình theo thứ tự như lúc đến. Chiếc thiết giáp thứ 3 đậu sát lề phía trước cổng nhà thờ, cửa phía sau được hạ xuống để chuẩn bị cho Tổng thống và ông Cố Vấn vào trong xe.

Cổng lớn nhà thờ vẫn đóng, giáo dân lác đác đi lễ sớm, ngang qua cổng nhỏ. Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa tháo súng ngắn, đi qua cổng nhỏ bước vào sân nhà thờ để đón Tổng thống Diệm và ông Cố Vấn. Lúc này hai ông đã ra đứng ở thềm nhà thờ. Ông Nghĩa cho biết, đáng lẽ tướng Mai Hữu Xuân hoặc đại tá Dương Ngọc Lắm phải là người vào nhà thờ để đón Tổng thống và ông Cố Vấn, nhưng hai ông không vào nên thiếu tá Nghĩa bất đắc dĩ trở thành người đi đón Tổng thống.
Thiếu tá Nghĩa đến trước Tổng thống chào kính theo kiểu cách quân đội và mời hai ông ra xe. Hai anh em ông Diệm bước xuống thềm rồi tiếp đến là hai tùy viên và sau cùng là thiếu tá Nghĩa tuần tự hướng đến cổng, bước ra khỏi khuôn viên nhà thờ qua cổng nhỏ. Đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng với thiếu tướng Mai Hữu Xuân đã đứng ở cửa xe thiết giáp mở cửa chờ sẵn.
Ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu hỏi xe nào để đưa Tổng thống và phản đối dùng xe thiết giáp để đưa hai ông về Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu tướng Mai Hữu Xuân lấy chiếc cặp da của Tổng thống Diệm từ tay tùy viên Đỗ Thọ rồi quay về xe riêng. Đại úy Nhung đã ép buộc Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu vào trong chiếc xe thiết giáp M-113, rồi cùng vào trong chiếc xe này. Cửa đóng và tất cả xe chuyển bánh theo vị trí đã định, hướng về Bộ Tổng Tham Mưu.
Lộ trình từ nhà thờ Cha Tam chạy đến đại lộ Cộng Hòa thì rẽ trái, đi qua ngã sáu rồi rẽ vào đại lộ Hồng Thập Tự. Đến cổng xe lửa số 6 thì đoàn công-voa phải ngừng lại vì cổng đã hạ xuống chặn lại để xe lửa chạy qua.
Trong lúc đoàn xe đang ngừng thì có tiếng súng nổ. Thiếu tá Nghĩa quay đầu xe Jeep lại, chạy dọc theo đoàn xe đi ngược về phía sau. Đến chiếc thiết giáp thứ ba thì thấy đại úy Nhung ngồi trên nóc xe, đưa ngón tay cái lên có ý nói mọi chuyện tốt đẹp.
Thiếu tá Nghĩa hỏi tiếng súng nổ ở đâu? Đại úy Nhung đưa tay chỉ vào trong xe nhưng không nói gì. Lúc ấy cũng đúng lúc đoàn xe lửa đã chạy qua, cổng được giở lên, nên thiếu tá Nghĩa quay xe trở lại để đoàn xe tiếp tục chạy về Bộ Tổng Tham Mưu.
Trung đội trưởng Thiết Giáp báo cáo với thiếu tá Nghĩa qua hệ thống truyền tin rằng, phụ tài xế thiết vận xa thứ ba có báo cáo tiếng súng nổ đó là do ông đại úy bộ binh bắn chết Tổng thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Thiếu tá Nghĩa và đại úy Hiệp đều nghe biết vụ này qua hệ thống truyền tin nhưng chưa báo cáo với Bộ Tổng Tham Mưu.

Về đến sân cờ của Bộ Tổng Tham Mưu, chiếc thiết vận xa số ba được canh gác cẩn thận không cho ai đến gần và không cho chụp hình.



Hình ảnh sau cùng: vị nguyên thủ quốc gia bị trói tay sau lưng và bắn vào ót trong lòng chiếc thiết vận xa M-113.



Quan tài ông Ngô Đình Nhu và Tổng Thống Ngô Đình Diệm bên phải được làm phép trước khi chôn.





Mộ tổng Thống Ngô Đình Diệm hiện nay tại nghĩa trang Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương.

Khi nghe đoàn xe về đến Bộ Tổng Tham Mưu, các tướng lãnh đi ra, đi đầu là Dương Văn Minh, gặp thiếu tướng Mai Hữu Xuân đưa tay chào và nói: “Mission accomplie!”. Tướng Minh chưa nói gì thì tướng Khiêm phía sau hỏi chuyện gì xảy ra? Tướng Minh trả lời: “Hai ổng chết rồi”. Trong vài câu đối thoại ngắn ngủn ấy, ai cũng chú ý đến câu nói của tướng Mai Hữu Xuân: “Mission accomplie!” (sứ mạng hoàn thành!). Tướng Mai Hữu Xuân nhận lệnh và đã thi hành hoàn đúng như yêu cầu của người ra lệnh, cho nên mới nói: sứ mạng hoàn thành.

Mấy tháng sau đó, tướng Nguyễn Khánh cùng với tướng Trần Thiện Khiêm thực hiện cuộc “chỉnh lý”, bắt các tướng đảo chánh nhốt ở Đà Lạt. Trong cuộc phỏng vấn trên truyền hình của Little Saigon hồi năm 2001, tướng Nguyễn Khánh kể lại:
“Lúc đó, chúng tôi họp trên Ðà Lạt 3 ngày 2 đêm, để xử mấy ông Tướng Ðà Lạt, thì xử ông Dương Văn Minh luôn, có lời khai tất cả. Ông Dương Văn Minh đã thú thật với Hội Ðồng chúng tôi, chính ổng đưa hai ngón tay thế này cho thằng sát thủ của ổng là thằng đại úy Nhung. Các tướng lãnh họp lúc đó đang bàn cãi về số phận hai ông về phải ở đâu, phải làm gì…
“Tại sao ông Minh Dương ra dấu cho thằng Nhung nó làm, nó thi hành cái mưu sát đó, mà nó thi hành một cách mọi rợ. Tui nói ra thì khó lắm… Tui nói ra thì thế giới nói dân tộc mình sống như thời ăn lông ở lỗ, mình không nói được… Nhưng mà vì sao ổng giết. Mà người ta vẫn biết ông Minh hiền từ, bon papa,… nhưng mặt trong của ông Dương Văn Minh ghê tởm lắm. Chú thi hành chuyện đó là đại úy Nhung.
“Trong cuộc Chỉnh Lý, sáng lại tui giao sinh mạng ông Nhung cho ông Cao Văn Viên, vì là Nhảy Dù mà. Tôi nói với anh Viên rõ ràng là anh phải giữ mạng sống của anh này, vì anh này biết nhiều chuyện làm của ông Dương Văn Minh, từ hồi Rừng Sác, lấy tiền làm sao, đưa cho ông Diệm ông Nhu bao nhiêu, giữ lại bao nhiêu, và chú này giết thằng Paul là thằng con của ông Bảy Viễn đó. Mấy ông Tàu ở Chợ Lớn đó, làm tiền này kia làm sao, làm sao,… thì thằng Nhung nó biết hết.
“Mình muốn thằng Nhung là một nhân chứng nó nói cái chuyện hiểu biết của nó. Nhưng mà sáng lại thì nghe nói là thằng Nhung dùng dây giày thắt cổ chết. Chuyện đó không phải như vậy. Ðó là một bí ẩn khác nữa… Tôi đã nói với người Mỹ biết chuyện đó rồi. Quyết định giết là ông Dương Văn Minh. Tại Sao? Vì cái thù riêng của ông Dương Văn Minh với gia đình họ Ngô.”.

Trong biến cố 1-11, không chỉ Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị chết thảm và mờ ám, mà còn các vị Tư Lệnh Hải Quân, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, Tham Mưu Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt. Ngoài ra, Tư Tệnh Không Quân, Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp Binh, Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn Dù,… nhờ sự bảo trợ của bạn bè nên đã thoát chết thảm.

Trao Quyền Để Ông Minh Đầu Hàng

Ông Dương Văn Minh có người em ruột tên là Dương Thanh Nhật, sĩ quan cao cấp trong quân đội của cộng sản Hà Nội. Vì yếu tố này mà nhiều người tin rằng ông có thể thương thuyết với Hà Nội để tìm giải pháp hòa bình và tránh đổ máu, nên đã buộc ông Trần Văn Hương trao quyền Tổng thống cho tướng Dương Văn Minh.
Cuối cùng, ông Minh đầu hàng cộng sản vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Không có tắm máu ở miền Nam, nhưng số người chết vì cộng sản, sau khi cộng sản chiếm miền Nam thì vô số. Người ta bị cộng sản thủ tiêu, bị đầy đi rồi chết dần mòn ở vùng rừng thiêng nước độc gọi là kinh tế mới. Tất cả quân cán chính bị tù và bị đầy đi thật xa; rất ít người trở về. Những cuộc thủ tiêu kín đáo để đoạt tài sản. Nhiều người bỏ thây trên đường vượt biên, vượt biển. Nhiều người tiếp tục kháng cự đã hy sinh…

Một cuộc tắm máu trắng không ai có thể kiểm chứng được. Hình như ông Dương Văn Minh không hề lưu tâm.

Năm 2006 vừa qua, Hà Nội cho xuất bản cuốn tự điển tựa đề “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, ở trang 143, cộng sản Hà Nội ghi tên ông Dương Văn Minh vào đây. Cũng là câu trả lời vì sao Hà Nội không lăng nhục ông Dương Văn Minh như những vị lãnh đạo khác của miền Nam.

Sách Gọng Kìm Lịch Sử (bản tiếng Anh có tựa là In the Jaws of History) của Bùi Diễm viết rằng: “Sau ngày đảo chánh, tôi tới nhà anh Kim ăn cơm tối, yên trí rằng có nhiều chuyện để nói. Tiếng súng bên ngoài còn lác đác, nhưng hai anh em ông Diệm đã chết, không ai nghĩ là tình thế có thể đảo ngược trở lại.
“Câu chuyện của chúng tôi hướng ngay vào những vấn đề trước mắt, tất nhiên có sự thành lập chính phủ mới. Tôi hỏi tướng Kim là Hội Đồng Quân Nhân đã có chủ ý mời ai đứng ra làm Thủ Tướng? Tướng Kim trả lời tôi một cách ngắn gọn: “Ông Thơ!” (Vào lúc đảo chính, ông Nguyễn Ngọc Thơ vẫn còn là đương kim Phó Tổng Thống).
“Thật là một gáo nước giội lên đầu tôi, làm tôi bật ngửa người. Tôi hỏi rõ lại xem có nghe nhầm không? Rồi không giữ được bình tĩnh, tôi nói luôn: “Chúng ta đang có một cơ hội lịch sử và cần những bộ mặt mới, tại sao các anh lại có thể nghĩ đến ông Thơ được!”.
“Tướng Kim trả lời ngay, đó là quyết định của tướng Minh
(tướng Dương Văn Minh, thường được các báo chí ngoại quốc gọi là Big Minh, là chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân) và thêm rằng: “Đối với tướng Minh thì đây là một vấn đề không cần bàn cãi” (câu nói bằng tiếng Pháp của tướng Kim, tôi nhớ rõ là: “Pour Big Minh, c’est un postulat!”). Tới đây thì tôi không còn nhịn được nữa, và bắt đầu to tiếng: “Các anh làm cách mạng để đưa bạn hữu lên cầm quyền thì cách mạng còn có ý nghĩa gì nữa!”.

Ông Bùi Diễm còn viết nhiều nữa, tỏ ý coi thường những con người mang lon tướng mà làm những chuyện chẳng ra gì. Có lẽ vì vậy mà ông không gọi cái hội đồng ấy là Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng mà chỉ là Hội Đồng Quân Nhân.

Một đoạn trong sách sử của Việt Nam vào đời nhà Trần, tưởng cũng nên nhắc lại để thấy gương vị lãnh đạo dũng liệt của người xưa, xứng đáng gọi là tướng, Vua Trần Nhân Tông nghe tin Hưng Đạo Vương bị thua trận, rút về Vạn Kiếp, liền ngự thuyền đến Hải Đông và vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc. Vua bảo:
“Thế giặc to như thế mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm chịu hàng để cứu muôn dân”. Hưng Đạo Vương tâu: “Bệ hạ nói câu ấy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà Tôn miếu Xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng”. Vua nghe lời trung liệt, trong lòng mới yên. Vua quan đồng lòng đuổi giặc nên đã thắng lớn, đuổi giặc Mông Cổ ra khỏi bờ cõi.

Đời nay, chúng ta có tướng Dương Văn Minh được trao quyền Tổng thống và cuối cùng đầu hàng giặc Cộng, mặc cho Tông miếu Xã tắc tan nát, di hại đến bao nhiêu đời sau. Nhìn lại nước Việt Nam ngày nay, quả là Tông miếu Xã tắc tan hoang. Con nít bị gửi sang Cam Bốt để bán dâm, không biết đến xấu hổ là gì. Con gái chấp nhận lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn,… để kiếm tiền nuôi thân, để thoát ra khỏi nước. Nền giáo dục, đạo đức, luân lý không còn, thì còn gì là Tông miếu Xã tắc.

Từ cuộc đảo chánh 1-11, người ta nhân danh làm cách mạng nhưng không làm cách mạng. Đến ngày 1-11, người ta thường nói nhiều đến cái chết bi thảm của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhưng lại ít phân tích về một khúc quanh lịch sử, miền Nam nằm trong tay những con người bất xứng để dần dần rơi vào tay cộng sản.

Lê Văn Bảy

Nguồn: Blog 16
Reply With Quote
  #17  
binhnguyen binhnguyen is offline
Thành Viên
 
Join Date: Oct 2008
Location: Australia
Posts: 133
Default BIG MINH

Old Ngày 07-11-2009, giờ 11:41
Có nguồn dư luận cho rằng Big Minh làm tay sai cho tên Việt Cộng nằm vùng và đội lốt áo thầy chùa Thích trí Quang...Nếu quý vị nào biết rõ hơn xin lên tiếng để vạch trần những âm mưu đen tối của bọn tướng lãnh hèn hạ cái gọi hội đồng cách mạng 1/11 suốt đời cúi đầu làm nô lệ Pháp đến Mỹ như bọn Cộng sản Việt Nam hiện nay cúi đầu Tàu cộng.
Ngay con cháu của bọn này phải hổ thẹn với đồng bào, đó cũng là bài học cho mai hậu chớ bắt chước những bọn hèn hạ vô liêm sĩ . Hiện nay, đất nước lâm vào tiến thối lưỡng ngang chẳng đặng đành ...Khốn thay cho dân tộc Việt Nam có những thằng con thối tha như thế!
Reply With Quote
  #18  
quangminh quangminh is online now
Thành Viên
 
Join Date: Nov 2009
Posts: 7
Default CôngSản, PhatGiáo Giết Anh Em Cố TổngThống Ngô Đình Diệm

Old Ngày 07-11-2009, giờ 13:32
Phải công bình xác quyết rằng :
1- Suốt dòng lịch sử VN không có nhà lảnh đạo nào thông minh, đức độ và thanh liêm, yêu dân, yêu nước bằng cố tổng thống Ngô đình Diệm. Các tổng thống Hoa-Kỳ dù bất đồng, nhưng đều kính trọng. Cũng không có nhà lảnh đạo nào được người dân VN tôn kính và yêu thuơng bằng cố tổng thống Ngô đình Diệm. Cũng không có thời đại nào người dân VN được an-bình, thịnh vương và hạnh phúc bằng thời đại Ngô Đình Diệm.
2-Cố tổng thống Ngô Đình Diệm là kẻ thù chính trị không đội trời chung của Cộng Sản và Phât Giáo.Phật giáo cho rằng VN là của họ:Đạo pháp và dân tôc.
3- Bọn tướng lảnh làm đảo chánh là bọn tay sai của Phật Giáo, của Cộng Sản và của Hoa-Kỳ.
4- Tuy Hoa-Kỳ bất đồng chính sách với cố tổng thống Ngô Đình Diệm nhưng Hoa-Kỳ chỉ muốn lật đổ chính thể Ngô Đình Diệm. Hoa Kỳ theo đạo Tin-Lành, tổng thống Kennedy là người Công Giáo không thể là tác nhân giết cố tổng thống Ngô Đình Diệm.
Do đó, kẻ ra lệnh cho đám tướng lảnh tay sai giết cố tổng thống Ngô Đình Diệm chính là Phật Giáo và Cộng Sản. Chúng đã cấu kết nhau xâm chiếm miền Nam thì không bao giờ để cho một đối thủ lợi hại được toàn dân kính trọng và yêu thương như chí sĩ Ngô Đình Diệm sống sót khi cơ hội đến tận tạy. Bỏ quên vai trò đao phủ của Phật Giáo là thiếu sót trước một biến cố lớn của lịch sử..
Reply With Quote
Góp ý

Thread Tools Search this Thread
Search this Thread:

Advanced Search
Display Modes

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On
Diễn Đàn Jump


All times are GMT +7. The time now is 08:00.


Powered by vBulletin® Version 3.8.4
Copyright ©2000 - 2009, Jelsoft Enterprises Ltd.



Vietland does not own copyright on Vietland.net .
Opinions expressed on Vietland are those of the individual posters and do not necessarily reflect the opinions of Vietland or its staffs.
All text is available under the terms of the GNU Free Documentation License .
Vietland Articles, News may be freely distributed and used for non-commercial.
"Vietland là một diễn đàn thảo luận công cộng, BBT chỉ giữ phần điều hành về kỹ thuật,
mọi bài viết là do chính thành viên ghi danh tự đăng lên, không nhất thiết là quan điểm của vietland và
BBTVL hoàn toàn không chịu trách nhiệm về nội dung của những bài viết đó. Mọi sự khiếu nại xin liên lạc trực tiếp với thành viên đăng bài".
Vietland không giữ bản quyền, tất cả các bài vở , hình ảnh của Vietland đều có thể phổ biến tự do mà không cần xin phép trước .
Mọi thắc mắc xin liên lạc BBT Vietland tại email info@vietland.net