![]()
|
|
|
|||||||
Nền Văn Minh & Văn Hóa Cổ Việt Nam
Sưu tầm & Biên khảo về nền văn minh cổ đại Việt Nam |
![]() |
|
|
Thread Tools | Search this Thread | Display Modes |
|
#1
|
|||
|
|||
|
Người ta thường lạm dụng từ ngữ cách vô minh khi dùng hai chữ Minh Triết với nghĩa như một đối tượng và lẫn lộn nghĩa của hai danh từ triết học và triết lý. Để thay cho phần nhập đề bài viết này với chủ đề Minh Triết và Chính Trị, tôi xin trích dẫn lại ở đây hai đoạn nói về Minh Triết của triết gia giáo sư François Jullien, một bậc trí thức được coi như là "vựa tư tưởng" (think tanks) của xứ Tây, trong buổi nói chuyện tại Trung tâm Minh Triết Việt, ngày 8/9/2008. Khi ông ta nói "tôi muốn nâng Minh Triết lên một bậc cao hơn nữa" chứng tỏ cho thấy Minh Triết đã được coi như là một đối tượng học hỏi, nên đối ngược hắn với quan niệm phương Đông coi Minh Triết như là lẽ sống.
Minh Triết và Chính Trị "Là một triết gia nên tôi muốn có một sự phát triển, không dừng lại ở Minh triết. Minh triết mới dừng lại ở quan niệm cái Tiêu cực có khả năng hợp tác, còn Triết học thì nhìn cái Tiêu cực và thấy rằng cái Tiêu cực là tích cực và nó còn có những tài nguyên, có sức sinh sôi nảy nở phong phú. Tôi muốn nâng Minh triết lên một bậc cao hơn nữa, cái Tiêu cực không những có khả năng hợp tác mà bản thân nó là tích cực, bản thân nó có tài nguyên dồi dào, có sức sinh sản dồi dào. Vì thế, một vấn đề của Triết học hiện nay là sáp nhập cái Tiêu cực vào quá trình, và một nhà Triết học như vậy có nhiều việc phải làm." "Ở châu Âu hiện nay, từ "sagesse" mà chúng tôi dịch là Minh triết có một nghĩa xấu, tuy vậy người ta có thể hiểu nó theo nghĩa xấu mà cũng có thể hiểu nó theo nghĩa tốt. Về nghĩa xấu thì tiêu biểu là ý kiến của triết gia Wittgenstein (triết gia Anh, gốc Áo), cho rằng "minh triết là một cái gì nguội lạnh và lẩn thẩn". Sau đây là một loại ý kiến đánh giá về Minh triết hiện nay: "Một khi Minh triết là như vậy thì nó thiếu lửa, thiếu sức sống, thiếu sức nóng, thiếu nhiệt, mà khi đã thiếu nhiệt thì nó chỉ che đậy cuộc sống, làm cho người ta không thấy được nó". Đấy là một ý kiến rất coi thường Minh triết. Như vậy, "Minh triết là một thứ tro nguội lạnh, xám xịt, phủ lên lò lửa là sự sống". Trong khi đó Triết học có cái đà của nó, có lửa nhiệt tình của nó. Minh triết khác với Triết học là ở chỗ đấy. Minh triết đi đến chỗ tiêu tan, nguội lạnh. Nhưng ngược lại, Voltaire lại cho rằng Triết học chỉ là xuyên tạc đời sống, nó chỉ là thức ăn nuôi trí tò mò của con người. Voltaire là người đơn độc, ông không có hậu thế để tiếp tục ý kiến của mình. Như vậy vấn đề hiện nay là có hai cách đánh giá về Triết học, về Minh triết: Minh triết che đậy sự sống, còn Triết học thì xuyên tạc sự sống. Cũng có hai cách đánh giá khác về Minh triết, về Triết học. Có một ý kiến cho rằng Minh triết là trên Triết học, còn có một ý kiến khác nói Minh triết là dưới Triết học. Cách đánh giá Minh triết trên Triết học có từ trước Plato, tức là người ta cho rằng Minh triết là cái gì đó cao hơn Triết học và nó là trí tuệ của thần thánh. Còn Triết học là sự hiểu biết của con người. Con người không vươn được tới Minh triết cho nên bằng lòng với việc là người bạn của Minh triết, là người yêu chuộng Minh triết. Nhưng đến Plato, bắt đầu có một sự đảo ngược lại. Người ta nhận ra Minh triết tự cho là thần thánh, tức là nắm được tất cả, mà nắm được tất cả là mất, bởi vì nắm tất cả thì anh không còn thiếu, mà không còn thiếu gì nữa thì anh không băn khoăn, không lo lắng, không động não nữa, anh ở trạng thái thoả mãn. Còn với Triết học, đối tượng của nó là cái thiếu, vì nó cảm nhận được cái thiếu nên nó hoạt động tích cực và phát triển."(Buổi nói chuyện của Giáo sư François Jullien tại Trung tâm Minh triết Việt, ngày 8/9/2008). Hay có nhiều định nghĩa khác về Minh Triết như trên trang mạng "Wisdom Page" mà một trong những định nghĩa có tính chất đối tượng được định nghĩa như : "Minh Triết là mục đích tối thượng của đời sống và là tối cao của giáo dục." (WISDOM : The Highest Aim of Life and Higher Education) Tôi nhận thấy một vòng lẫn quẩn trong sự diễn giải của triết gia F. Jullien về Minh Triết, và điều này làm tôi liên tưởng đến 2 câu ca dao tục ngữ sau đây, nói lên ý nghĩa cô đọng và đúc kết sự lý luận với óc duy lý của tác giả, nên không thể thấu triệt nổi cái nghĩa Minh Triết, chứ không hề có ý phê bình hay chỉ trích : Gà què ăn quẩn cối xay Hát đi hát lại tối ngày một câu. Vì vậy trong khuôn khổ bài này, tôi chỉ mạo muội trình bày tư tưởng Minh Triết xây dựng trên một nền tảng thiết thực là "con người" hiện hữu, với mọi biến đổi và tương quan liên hệ mật thiết với con người, bằng cách đem cái lẽ đó vào đời sống hằng ngày để sống bằng cảm hóa và làm cho thăng tiến con người qua đời sống. Do đó mới gọi là triết lý nhân sinh, mà còn có thể gọi là "chính trị" theo nghĩa Minh Triết. 1/ Minh Triết với Đạo học và Triết học. Minh Triết không thể định nghĩa theo kiểu hàn lâm tự điển, vì nó làm cứng đọng cái "nghĩa" theo khuôn khổ ý niệm của lý trí nên không còn là "nghĩa". Vì chữ "nghĩa" ghép với bộ "mộc" thành chữ "nghi", nên có thể nói "nghĩa" cũng là "nghi" với nghĩa "thích nghi" như câu định nghĩa trong Kinh Dịch là "tùy thời chi nghĩa đại hĩ tai" tức là " (tùy) theo thời đó là đại nghĩa vậy". Do đó mà khi dịch hai chữ Minh Triết này ra ngoại ngữ như "wisdom" hay "sagesse" thì lại càng có nghĩa hàn lâm cứng ngắt vì chẳng còn nghĩa thích nghi đâu hết ! Vì vậy theo tôi, muốn hiểu nghĩa hai chữ Minh Triết, thì trước hết phải tìm về cái gốc tức cách viết của hai chữ này, thì mới có thể hiểu được cái nghĩa nguyên thủy, để từ đó suy diễn nghĩa ra thì mới có thể tránh sai lạc, vì đó cũng là cách khoa học với quan sát, thí nghiệm và kiểm chứng. Nên khi tìm về cái gốc là cách viết của chữ Minh, ta thấy chữ này được viết với bộ "nhật" (mặt trời) kép với bộ "nguyệt" (mặt trăng) thì tự nhiên ai cũng hiểu Minh nghĩa là sáng, là chiếu rọi như mặt trời ban ngày, mặt trăng ban đêm. Do đó Minh tức là sáng tỏ, chiếu rọi hay làm cho sáng, như chữ "minh Minh Đức". Còn chữ Triết được viết ở trên với bộ "thủ" (tay) bên trái, kép với bộ "cân"(đo lường cân nhắc) bên phải, và kép với bộ "khẩu" ở dưới ; như vậy thì Triết là nghĩa tài tác sáng tạo, nghĩ ra, làm ra, viết ra bằng cái tay và nói ra bằng cái miệng với sự xem xét đo lường cân nhắc cẩn thận. Nên từ đó có thể suy diễn nghĩa nguyên thủy của hai chữ Minh Triết là làm cho sáng tỏ mọi sự (vạn vật) bằng tư tưởng, lời nói và hành động. Nhưng làm thế nào cho sáng tỏ mọi sự qua tư tưởng, lời nói và hành động nếu không phải là chiếu rọi cái "nghĩa" tiềm ẩn của mọi sự vật nơi tiềm thức ? Vì khi hiểu biết được vạn vật tức là đã biết sống thích nghi với nghĩa (tùy thời chi nghĩa) của sự tương giao liên kết với Toàn thể, còn gọi là Nhất thể hay Đạo thể. Vì vậy, Triết còn có nghĩa là "triệt" tức là sự hiểu biết "triệt thượng triệt hạ", từ thấu trên cao xuống triệt để (dưới thấp) đều thông suốt mà không hề khúc mắc. Do đó mà Kinh Thư có câu : "tri nhân tắc triết" có nghĩa là "biết người ắt có hiểu biết". Như vậy có thể nói nôm na Minh Triết là hiểu biết (làm sáng tỏ) ý nghĩa con người qua tư tưởng, lời nói và hành động, nghĩa là cái biết thấu triệt tận căn cơ, còn gọi là Đạo học. "Người ta hay lầm Đạo học với khoa luân lý hình thức vì thường chúng cũng mang tên đạo đức học. Kỳ thực khi xem từ đầu chí cuối không gặp được yếu tố chi đáng gọi là Đạo cả. Cũng có người lầm Đạo học với tôn giáo bởi vì hai đàng có điểm giống nhau ở chỗ cả hai bên có bầu trời siêu việt, một bên là siêu nhiên, một bên là tâm linh. Nhưng cũng còn rất nhiều sự dị biệt từ căn để. Chẳng hạn, trước hết tôn giáo là một tín ngưỡng, một lòng sùng mộ, đang khi Đạo học là một tri thức cùng loại khoa học, hơn nữa còn là bà chúa khoa học ở chỗ không những tìm biết nhưng tìm biết cách thấu triệt bằng trực giác. Khoa học mới là một tri thức, một "savoir", đang khi Đạo học phải là một "sagesse", một Minh Triết, nghĩa là cái biết đến căn cơ cũng gọi là Đạo học. Triết lý chưa phải là triết khi hiểu triết cùng với nghĩa Minh Triết. Trong trường hợp đó Triết phải viết hoa, nói lên cái biết cùng cực. Còn triết lý tuy cũng là cái biết triệt để nhưng mới là cái để của lý học là một tài năng rốt ráo của các cơ năng khả giác, hữu hình, có đi xa hết cỡ cũng mới vượt giác quan có cơ thể, chưa hẳn là hình nhi thượng, nên triết học chưa phải là Triết, cũng như ý thức chưa phải là Thức : ý thức mới là một phần nhỏ của cái Thức toàn diện bao hàm tiềm thức, vô thức, siêu thức, thần thức v.v… Triết học chỉ ở trong vòng ý thức, trong vòng lý trí của con người hiện tượng. Triết mới bao gồm cả lý trí lẫn tiềm thức siêu thức nơi cõi Tâm linh của con người toàn diện Đại ngã. Hiểu như thế thì Triết với Đạo là một. Vậy Đạo học là gì? Có thể căn cứ vào tự dạng chữ Đạo kép bởi bộ Xước là đi và Thủ là đầu, là cội gốc mà thưa rằng Đạo học là đường đi về với bản gốc của mình. Đạo chính là con đường "phục quy kỳ căn", trở lại với căn cơ nguồn ngọn của con người muôn thuở. Đạo học chỉ có bấy nhiêu đó, nhưng chỉ bấy nhiêu đó cũng quá đủ đặt ra cho ta những vấn đề vừa thâm thiết đến mệnh số và cứu cánh con người, cho nên cũng là những vấn đề hào hứng mà không một ma tuý nào trên đời có thể bì kịp, là vì nó trung thực và đáp ứng cho những khát vọng cốt tuỷ nhất của lòng người. Những vấn đề nó đặt ra sâu xa man mác đến nỗi lý trí con người mặc dầu có thể tạo dựng nên những khoa học tân kỳ đủ loại, cũng đành bó tay trong địa hạt bao la của cõi Đạo và ngoại trừ một số dữ kiện sửa soạn, lý trí không sao tìm được đáp số cho những câu hỏi chẳng hạn : nguyên uỷ mà Đạo tìm về là cái chi ? "Phục quy kỳ căn" thì căn đó là gì ? Nó liên hệ với ta ra sao ? Với vũ trụ nhân sinh thế nào ? Trên đường quy căn đó có phục kích, có đắp ụ chăng? Ai đắp? Những ai phục kích ? Làm sao mà kinh qua ? Đó là đại loại vài câu hỏi mẫu, nó sẽ kéo theo biết bao câu hỏi khác mà già cả một đời tận tuỵ tinh anh cũng không sao giải đáp hết. Vậy thì Đạo học không phải là tuân theo một số luật tắc này nọ, vâng giữ một số nghi tiết kia khác… Những cái đó nếu có cũng chỉ là phụ thuộc. Đạo học là một đường lối siêu tuyệt phát khởi từ tri thức, ý thức, xuyên qua tiềm thức, vô thức để lên miền siêu thức nên thấu nhập vào tận thâm tâm con người cũng như tỏa ra thấm nhuần hết mọi hành vi cử chỉ con người. Nói theo tâm não khoa học đời ta thì Đạo học mở ra những chân trời kỳ lạ có thể gọi là chiều kích thứ năm, thứ sáu tuỳ ý (5e, 6e dimension). Nhưng điều cốt cán là ám chỉ cái nguồn nghị lực huyền diệu chất chứa bên trong, khiến cho ta khi đọc và có thể hiểu được Đạo học thì sẽ thấy có cái chi lôi cuốn rất huyền vi. Có những người chỉ cần nghe một câu của Đạo học đã đủ sáng soi, hướng dẫn và tiêm hăng say cho cả một đời sống cách rất sung mãn, và đó là chỗ Đạo học vượt xa triết học, nó đưa lại cho triết học một chiều kích siêu linh mà nguyên triết học không sao có được. Nó đem lại một nguyên lý uyên tuyền phổ biến đang khi triết học mới đạt những nguyên lý thuộc lý trí, thường được phát kiến ra bằng lý luận suy tư nên có tính cách tương đối, cùng loại với khoa học như Toán Lý Hóa v.v… Vì thế khi định nghĩa triết học, Aristote cho là cái biết đến tận những lý lẽ. Ông đã dùng số nhiều "rationes, causas": những lý do, những căn nguyên. Chữ những là cái cùm cầm chân không cho triết học tới đến cái lý nhất quán, vô nhị. Chỉ có Đạo học mới vượt qua hàng rào những lý, những lẽ để đi sang miền "lân hư" tiếp cận với "không" tức không biên cương giới mốc, không lý lẽ, ở bên ngoài những ngẫu kiện tương đối (contingences relatives). Do đó mà Đạo học không dùng số nhiều nhưng là số ít. Một đầu, vô nhị, nhất quán nhưng với sức bao dung vô tận như đại dương, còn triết học chỉ là ao, hồ. Vậy Đạo học sẽ phải là chỗ hướng vọng của chúng ta, của những con người thế kỷ 20 đã hiểu được ngoài hiện tượng còn có một cõi siêu linh cần khám phá. Trải qua hai mươi lăm thế kỷ, triết học lý niệm đã có đủ thì giờ lục soát cõi hiện tượng và đã chu toàn sứ mạng của giai đoạn lý trí rồi, nghĩa là đã biểu lộ đến hết cỡ mọi khả năng của nó, và Kant đã tuyên bố là nó bất lực trước thế giới siêu linh đành bó tay vì không có buồm lạt chèo cột chi cả. Giờ đây nó đang bị đả phá, bị tháo gỡ để dọn đường cho Đạo học ra đời. Đó là chiều hướng đáng hứng khởi của triết học hiện đại, tuy mới như rạng đông qua làn sương mai chập chờn biến hóa "hốt hề hoảng hề" nhưng "kỳ trung đã hữu tượng" tức là đã có tượng linh động đủ cho chúng ta quy hướng sinh lực vào đó mà phát triển và hoằng dương. Với triết học có làm hết cỡ chúng ta cũng mới là triết học gia, một thứ bác học có nhiều sáng kiến và mạch lạc. Chỉ với Đạo học tức là một thứ Triết Trung thực chúng ta mới đi vào con đường trở thành triết gia, hiền triết." (Kim-Định/ Triết Lý Giáo Dục) Tôi không thể làm sáng tỏ ý nghĩa Minh Triết hơn cố triết gia Kim-Định mà qua trích đoạn vừa dẫn, ngài đã cho chúng ta hiểu biết rõ ràng bằng sự phân biệt nền tảng siêu việt giữa tính chất siêu nhiên của Đạo học và tâm linh của tôn giáo, mà triết học với lý luận bằng trí óc không đạt tới được ! Cũng như tính chất khoa học giữa triết học là môn học nghiên cứu để tìm hiểu về nguyên lý của sự vật, tức là biết cho tới tận những lý lẽ, những căn nguyên sâu xa nhất ; còn triết lý là tìm hiểu về cái lẽ, cái ý nghĩa cội nguồn sâu xa của sự vật. Vì mang tính chất siêu việt với tâm linh, nên Minh Triết là một sự biết thấu triệt thông suốt, không bị u tối hạn hẹp lại, nên luôn luôn kéo theo sự hiện thực bằng Tri (Học) với Hành hợp nhau gọi là Thành. Hay còn có thể nói Minh Triết xây nền tảng trên con người lấy minh Tâm làm đường đi, lấy thành Tính làm chỗ đến. Nói cách khác con người vừa là đối tượng, vừa là cứu cánh của Tâm Tính, là Nhân Tính, là Thiên Tính mà cũng là Đạo Thể Viên Dung ! 2/ Minh Triết và chính trị. Vì vậy một khi đã có Minh Triết thì sẽ không còn một sự vật hay điều gì bị u tối hay hạn hẹp, vì tất cả "vạn vật" đều đã được Cung, Tòng, Minh, Thông, Duệ, bằng Ngũ sự đó là : mạo (diện mạo), ngôn (lời nói), thị (nhìn ngắm), thính (nghe ngóng), tư (suy tư). Vì một khi : 1/ diện mạo cho kính cẩn (Cung) 2/ lời nói cho thuận theo tức hễ nói là làm (Tòng) 3/ nhìn ngắm cho sáng suốt (Minh) 4/ nghe ngóng cho rõ ràng (Thông) 5/ suy tư cho thấu triệt (Duệ) Nên khi đã có : 1/ Kính cẩn thì sinh nghiêm chỉnh (Túc) 2/ Thuận theo thì sinh giỏi giang (Nghệ) 3/ Sáng suốt thì sinh tinh khôn (Triết) 4/ Rõ ràng thì sinh mưu kế (Mưu) 5/ Thấu triệt thì sinh ra thánh trí (Thánh) Đó mới chính là VĂN HÓA. Vì Văn Hóa không phải là nghĩa hàn lâm trong tự điển hay với kinh điển như Tứ thư, Ngũ kinh, hoặc thơ văn, nghệ thuật với cầm, kỳ, thi, họa, hay ca, vũ, nhạc, kịch, v.v... Mà Văn với nghĩa nguyên thủy là con Người (chữ Văn sơ khởi viết bằng 2 nét giao nhau với nghĩa trời đất tương giao, tương hợp); còn Hóa với nghĩa nguyên thủy là mở ra cho tận. Cho nên VĂN HÓA với nghĩa nguyên thủy chính là con người phải biết, tức là TRI, để tự mở ra cho tận tới chiều kích vô biên, tức là HÀNH thì mới có TÂM, có ĐẠO nghĩa là mới THÀNH Nhân, mà Việt Nho còn gọi là Đại Ngã Tâm Linh. Hay còn có thể nói Văn Hoá là dùng Văn để mà cảm Hoá, giáo hoá, biến hoá, cho con người Tiến Hoá thuận theo quy luật tất yếu để quy về Cội Nguồn tức là trở về với chính mình là con tạo mà cũng là Tạo Hóa ! Vì vậy chữ Việt là nghĩa tiến hóa "siêu việt" cho nên nghĩa tiếng Việt không thể cô đọng cứng ngắt kiểu hàn lâm từ điển ! Trái lại hai chữ Việt-Nho, với Nho nghĩa là Nhu (Nhu Đạo) tức là nghĩa uyển chuyển để thích nghi tùy cơ ứng biến (dịch), thì mới có thể tiến hóa và siêu việt. Cho nên chỉ có Minh Triết khi mình nắm vững nền tảng Âm Dương trong lưỡng nhất tính với cơ cấu Tam tài và triết lý Ngũ hành rồi thể nghiệm qua Ngũ sự. Vì vậy những tư tưởng sai lầm về "chính trị" là vì thiếu triết, vì thiếu triết là thiếu cái lý giải cách minh nhiên để giúp vào việc nhận thức có tính cách thấu triệt (duệ), nên mình mới đi nói "phi chính trị" chẳng hạn, hay mới bàn cãi tranh luận tràng giang đại hải, bất phân thắng bại ! Vì "biện lý chứng" là sản phẩm của lý trí mà không biết rằng tiền nhân đã dạy "cùng thần chi hóa, cùng lý chi mụ", nghĩa là phải theo thần thì mới hóa mở ra tận vô biên, còn theo lý (trí) thì chỉ có dẫn đến bế tắc ! Vì vậy mà không có mấy ai hiểu đúng nghĩa nguyên thủy của hai chữ Chính Trị mà toàn hiểu theo nghĩa hàn lâm tự điển. Vì như đã nói ở trên là phải TRI tức là thấu hiểu ý nghĩa tận, kỳ, tính, cái ý nghĩa con người qua ý, tình, chí, bằng tư tưởng, ngôn ngữ và hành động, nghĩa là hiện thực cái TRI bằng HÀNH để cho THÀNH. Vì vậy muốn HÀNH cho Đúng, tức là cho CHÍNH, cho CHÁNH (do đó mới có tiếng "hành chánh") không còn cách nào khác hơn là phải TRI. Nên ai cũng biết Học Viện Quốc Gia Hành Chánh là trường đào tạo những con người có tài đức, là con người có cái nhìn quang minh quảng đại thì mới là Vĩ nhân, mới khai quang nổi nền văn hóa hay ít ra mới tiếp thân được những tư tưởng lớn để tồn tâm dưỡng tính, tu thân tích đức thì mới là con người mẫu mực lý tưởng, xứng danh là Nhân hoàng tức là mới đáng làm vua. Hay nói theo ngày nay là mới đáng làm chính trị. Vì theo quan niệm Viễn Đông nhà chính trị chân thực phải biết "hành chánh" tức là phải biết làm cho đời sống dân nước ăn nhịp với tiết nhịp uyên nguyên của Trời, Đất, Người, nghĩa là phải biết lấy điều công chính (thiên lý) làm cho người dân trở nên người chính trực, còn gọi là quân tử, thì tự nhiên gây ra (tạo được) an bình khắp cõi, với dân giàu nước mạnh. Vì vậy mà khi nói về dân Việt tộc ở phía Nam, Khổng Tử đã thốt lên : "Khoan nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo. Nam phương chi cường dã, quân tử chi cư", có nghĩa là "lấy khoan nhu mà giáo hóa, chớ không trả thù kẻ vô nhơn đạo. Phương Nam có cái đức cường (hùng dũng phi thường) đó, vì là có quân tử ở". Đó mới là nghĩa chính trị như câu : "chính giả chính dã". Đó mới là chính trị đúng nghĩa với an bang tế thế ! Để được như vậy thì trước hết phải là người lý tưởng, là quân tử đại trượng phu có tài đức, nên còn gọi là Thiên Tử, nhưng sau này bọn thanh giáo của Hán nho đã bẻ quặt cái nghĩa này để đặt cho vua chúng nó, là người chỉ có tài chiếm đoạt bằng chém giết mà không có đức, có nhân, thành thử là lạm dụng từ ngữ ! Vì vậy làm chính trị là phải có chủ Đạo, vì chủ Đạo là Tinh Hoa của Văn Hoá, là Minh Triết, là Đạo thì mới là chính trị đúng nghĩa "dĩ nhiên" (thuận thiên). Nên chủ trương hay chủ thuyết muốn thành chủ Đạo phải có bốn đức tính : "Văn, Lý, Mật, Sát", với Văn là Văn Hoá, Lý là Thiên Lý, Mật là Tâm Linh, và Sát là làm cho sáng tỏ (minh Minh Đức) bằng phân tích chứng minh. Cho nên nếu chỉ có chủ trương "chống cộng" mà không có chủ đạo thì không phải là Chính Trị đúng nghĩa mà chỉ là "chính chị chính em" kiểu ruồi bu... !!! Cho nên chế độ "Dân Chủ" không phải là con đường tốt nhất cho Việt Nam như mọi người tưởng đâu, vì nghĩ là chủ thuyết thích hợp cho việc dân giàu nước mạnh mà các nước tân tiến Âu Mỹ đang áp dụng. Nhưng vì cố thủ tướng nước Anh là W. Churchill đã từng nói: "Dân chủ là một chế độ đồi tệ, nhưng là đỡ tệ hơn tất cả những chế độ khác", thì tại sao mình còn phải chạy theo "Dân chủ" mà không là "Nhân Chủ" ?? Vì cách đây trên mười ngàn năm tức là ở vào thời Hòa Bình, tổ tiên Việt tộc đã chứng nghiệm chế độ Nhân Chủ một cách Thái Hòa, cho nên mới gọi là thời Hòa Bình, vì xã hội với thể chế làng nước được xây trên nền tảng Nhân Tính, là Tính Bản Nhiên của con người, với tam công là công phu (Trí), công quả (Nhân), công trình (Dũng), để sống bằng "tình huynh đệ đại đồng", mà thời nay những người làm chính trị chưa mấy ai biết tới, vì là vẫn còn vô minh với bốn chữ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ ! Vì muốn "thông minh" thì phải biết triết lý "Ngũ hành" với "Ngũ sự" tức là phải chu TRI (biết trọn vẹn) như tiền nhân đã dạy : "Tri chu hồ vạn vật nhi Đạo tế thiên hạ, cố bất quá", nghĩa là phải "biết trọn vạn vật mới là Đạo Nhân thì tự nhiên gây ra an bình khắp cõi mà không hề quá đáng". Tóm lại, Minh Triết là lý, là lẽ đúng của chính trị, là không gì khác hơn "Hành Chánh", không phải với nghĩa như ai cũng hiểu là sắp đặt tổ chức dân nước hay quản lý điều hành với các cơ quan hành chánh (administration) lo giữ sổ sách, hồ sơ, văn kiện, giấy tờ, thuế má, v.v... mà trái lại là nghĩa phải làm sao cho dân và nước xem vào nhà làm chính trị thì thấy hiện thân sống động của Tự do, Công lý, Bình sản, mà không cần phải học triết lý qua sách vở. Có như vậy mới làm nảy sinh ra được những thể chế ăn hợp với hoàn cảnh để đáp lại những khát vọng của dân và làm lợi thực cho nước, thì mới gây được Hòa thời và mới đáng gọi là "tế thế an bang". Hay nói cách khác, làm chính trị tức là đem đạo vào đời không phải bằng diễn văn hay chương trình với dự án, mà chính là sống Đạo làm người với trọn vẹn Nhân tính, với dân với nước để làm mẫu mực cho dân cho nước, thì mới thật là vua, là tổng thống. Vì nếu vua hay tổng thống sống công bằng chính trực làm gương mẫu, thì còn ai dám làm điều sai lạc ?? (Tử suất dĩ chính, thục cảm bất chính ?) Viết xong, ngày 18 tháng 10 năm 2009. (tức mồng 1 tháng 9 năm Kỷ Sửu) Nguyễn Sơn Hà. |
![]() |
| Thread Tools | Search this Thread |
| Display Modes | |
|
|
